BĐQ & Các Trận Đánh

bietdongquan

Tiểu Đoàn 11 BĐQ Tại Căn Cứ Charlie

BietDongQuan

Liên Đoàn 2 BĐQ (sau đổi tên thành LĐ23/BĐQ) gồm 3 TĐ, theo lẽ thì có số thứ tự là 21, 22, và 23. Nhưng do TĐ11 tham dự cuộc Biến Loạn Miền Trung năm 1966 nên được thuyên chuyển từ Đà Nẵng lên Pleiku và hoán đổi với TĐ 21. Do vậy LĐ 2 gồm TĐ 11, 22 và 23. Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đóng ở Biển Hồ Pleiku, trên một khu đất khá bằng phẳng gần Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II với 2 Tiểu Đoàn 22 và 23, riêng TĐ 11 thì đóng biệt lập trên phần đất cao hơn và nằm đối diện với Liên đoàn qua Tỉnh Lộ.

Có lẽ vì đóng riêng biệt như vậy nên TĐ 11 hầu như hoạt động độc lập nhiều hơn hai tiểu đoàn bạn. Sau khi các Trại Biên Phòng của CIDG cải tuyển qua BĐQ hoàn tất vào tháng 12 năm 1970 thì các tiểu đoàn này có một chương trình huấn luyện bổ túc toàn đơn vị ở Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ Dục Mỹ. Trong thời gian đi thụ huấn ở đây, trại được giao lại cho một đơn vị BĐQ khác. Liên Đoàn II/BĐQ là Liên Đoàn Tiếp Ứng hay Liên Đoàn Trừ Bị Vùng, nhưng cũng chỉ có 2 Tiểu Đoàn 22 và 23 là có nhiệm vụ hoán chuyển cho các Tiểu Đoàn Biên Phòng đi Dục Mỹ “hấp” thôi. Còn TĐ 11 đảm nhiệm vai trò một đơn vị lưu động, hết tăng cường cho Trung Đoàn 42 BB lại biệt phái cho Tiểu Khu Kontum, Phú Bổn, thậm chí cho cả các Chi Khu nữa.

Cuối tháng 11-1971, TĐ 11 BĐQ được lệnh tiếp viện cho trại Polei Kleng (TĐ72 BĐQ Biên Phòng) ở phía Tây Nam Kontum. Nhờ B52 rải thảm trúng Trung Đoàn 95B, thuộc sư Đoàn 320 Thép của CS nên bọn chúng đại bại.

Cũng từ thời gian này chiến trận bắt đầu leo thang trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật. Dĩ nhiên với tình hình đó thì TĐ11 BĐQ bị hành quân liên miên là chuyện tự nhiên. Từ Polei Kleng, tiểu đoàn được trực thăng bốc thẳng về Kontum tăng phái cho Trung Đoàn 42 BB. Nơi đây, họ đưa tiểu đoàn lên phía Bắc Kontum để thám sát tình hình quanh khu vực Tân Cảnh, phi trường Phượng Hoàng. Trinh Sát của Tiểu Đoàn khám phá rất nhiều đoạn đường, ở những điạ thế ngặt nghèo, được làm rất công phu.

Chúng bắc cầu qua những chỗ trũng hoặc suối bằng những cây rừng loại lớn cả người ôm. Qua những tin tức ghi nhận được, chúng xử dụng xe be của dân khai thác lâm sản làm những đoạn đường này, và cố né tránh đụng độ với Tiểu Đoàn chúng tôi.

Báo cáo về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn thì họ không tin là Cộng Sản Bắc Việt đang có dự mưu gì với Kontum, bởi lẽ sau Tết Âm Lịch tình hình chiến sự có vẻ “êm” hơn bình thường. Báo về Liên Đoàn thì nơi đây cũng chỉ ghi nhận để báo lại lên trên.

Nói chung, ngay từ đầu năm 1972, các tin tức tình báo đã ghi nhận được những biến chuyển của cuộc chiến kể cả các do đơn vị trinh sát cuả Tiểu Đoàn thu nhận được. Vì bọn CSBV đã làm những con đường khuất dưới những tàng cây rậm rạp của những cánh rừng già bạt ngàn trên cao nguyên, nên những báo cáo chúng tôi gởi về không làm sao ăn khớp được với không ảnh do Không Quân của cả Mỹ lẫn Việt chụp, thậm chí chúng tôi còn bị nghi ngờ là cung cấp tin tức giả mạo.

Ngay sau khi hết giai đoạn tăng phái cho Trung Đoàn 42 BB, TĐ11 cũng chẳng phải đi đâu xa, vì đã nhận lệnh tăng phái cho Tiểu Khu Kontum và được quân vân xa chở thẳng đến địa điểm mới bên kia sông Dakbla, hướng Đông Kontum. Đó là một làng Thượng có tên Việt là Ngọc Hồi.

Làng khá sạch sẽ và ngăn nắp với một Nhà Rông rộng lớn, mái cao nhọn lợp tranh, ngay giữa làng. Chỉ cần thấy cái Nhà Rông này là biết ngay đây là một bản làng người Thượng, vẫn có thói quen xử dụng nước suối trong sinh hoạt. Vì thế, dù trong ấp có một giếng nước lại có cả máy bơm tay nữa nhưng họ vẫn hàng ngày kéo nhau ra sông Dakbla tắm rửa và lấy nước. Vì làng nằm cạnh bờ sông nên việc lấy nước cũng dễ dàng. (Chẳng hiểu sao lại gọi là sông, thực ra nó chỉ là 1 con suối hơi lớn bề ngang chừng hơn 10 mét. Dân xe be đã ủi một đoạn hơi lài 2 bên để xe có thể băng ngang suối.)

Chúng tôi cũng thích ra sông tắm, để vui đùa dưới làn nước trong mát hầu quên đi những ưu tư của cuộc chiến. Dù cùng tấm trên một dòng sông, nhưng các thiếu nữ Thượng không bao giờ tắm chung, không chỉ với chúng tôi mà ngay với nam giới Thượng cũng thế. Họ luôn đi lên thượng nguồn lấy nước và tắm ở phía đó. Ngắm những thiếu nữ Thượng tắm cũng là một thú vui của đám lính Kinh. Họ hồn nhiên 100% dưới làn nước. Dù biết có người đang nhìn họ cũng vẫn thoải mái, không mắc cỡ. Họ cũng không cho rằng nhìn như vậy như vậy là thiếu lễ độ. Nhưng những thiếu nữ đã có chồng thì họ mặc váy để tắm, và nếu có con thì họ che cả ngực khi biết có người nhìn(?). Trai Thượng không tham gia với đám lính người Kinh, nhưng họ cũng chẳng phản đối gì.

Bọn VC thường từ phía này bắn cối và rocket vô phi trường Kontum. Anh em Địa Phương Quân vô vùng là bị phục kích, và dĩ nhiên “dữ nhiều lành ít”. Ngay ngày đầu tiên những toán lục soát của các đại đội đã gom về được một mớ rocket 122 mm được VC cài để tự khai hoả. Chính vì vậy dù pháo binh lấy điểm chính xác để chống pháo kích thì cũng chẳng ăn thua gì vì chúng đã rút ngay sau khi đặt. Vả lại với phương pháp đó thì không sao có thể biết chúng đang ở đâu vì chúng đặt khắp mọi nơi. Tầm hoạt động của cối và rocket 122 mm của VC thì khá gần, do vậy việc khoanh vùng để tìm và diệt không khó. Sau một tuần lễ tình hình trở lại bình thường, phi trường không còn bị pháo kích nữa.

Điều đặc biệt hơn cả là Tiểu Đoàn lùng xục khắp một vùng rộng lớn như vậy nhưng lại không chám trán, không đụng trận nào với VC cả, cứ như là ngửi hơi cọp lũ chó rừng trốn mất tăm mất dạng, vô tình chúng tôi được một dịp tốt hiếm hoi để dưỡng quân. Sau đó cả tháng trời, mặt trận phía Bắc và Tây Kontum đang lần hồi sôi động đến độ phải điều động cả Lữ Đoàn 2 Dù từ trong Nam ra tăng cường cho mặt trận Kontum thì Tiểu Đoàn chúng tôi vẫn như “ngồi chơi sơi nước”.

Được trả về Liên Đoàn, một lần nữa chúng tôi lại bàn giao chiến địa cho anh em Địa Phương Quân. Cũng một lần nữa, chúng tôi lại tách rời Liên Đoàn để nhận nhiệm vụ tăng phái cho Lữ Đoàn 2 Dù. Quân số của Tiểu Đoàn chúng tôi khi đó khoảng 670 người. Đây là một con số rất lớn, bởi sau này khi tình hình chiến sự khốc liệt việc bổ xung quân số không còn đầy đủ và nhanh chóng nữa thì Tiểu Đoàn có khi chỉ còn hơn 400 người thôi (!)

Lữ Đoàn 2 Dù giao chúng tôi nhiệm vụ giữ an ninh phòng thủ căn cứ, chỉ phái một hai Đại Đội đi “làm ăn bên ngoài”. Khi đó, Lữ Đoàn Dù bố trí “các con” của họ tại những căn cứ theo hình cánh cung, trải dài trên 10km, từ dưới Căn Cứ 6 của Trung Đoàn 42 BB tới khoảng giữa trại Polei Kleng và Võ Định. Đại Đội 4 BĐQ của Trung Úy Trần Cao Chánh được phái ra ngoài căn cứ hoạt động trong khu vực giữa 2 căn cứ Charlie và Delta (TĐ 11 Dù và TĐ 2 Dù) và ở về hướng đông của 2 căn cứ này. Họ đã được pháo binh Dù yểm trợ chính xác, nhanh chóng, hiệu quả với số lượng lớn, khi được yêu cầu.

Cần nói thêm là khi ra ngoài hoạt động Đại Đội này liên lạc thẳng tần số nội bộ trực thuộc điều động và báo cáo với Ban 3 Lữ Đoàn 2 Dù, khi đó Quyền Trưởng Ban 3 là Đại úy Nguyễn ngọc Nhi, khóa 20 Võ Bị

Đầu tháng Tư địch tăng cường từ hướng Tây, pháo kích dữ dội vào các căn cứ Dù. Chúng dùng đủ loại pháo binh, kể cả 130 ly, có tầm bắn tới 30km trong khi pháo binh 155 ly của ta chỉ khoảng 15km. Rõ ràng chúng có nhiều ưu thế hơn ta. Cách duy nhất để “khóa mõm” bọn này là dùng máy bay. Nhưng không phải khi nào các đơn vị của ta cũng có thể điều động máy bay vào vùng, nhất là khi thời tiết xấu. Thêm nữa địch đặt pháo ngay biên giới, khi xong bọn chúng lại kéo đại bác qua biên giới.

Trong khi đó, chúng ta không thể ném bom vào đất bạn được, vì mỗi lần như vậy họ lại kiện cáo lung tung với Toán Liên Hợp Bốn Bên.

Đêm 11 rạng 12 Tháng Tư, qua tần số nội bộ của Dù, Tr/Úy Chánh biết rằng Charlie đã bị pháo kích nặng nề, Trung Tá Nguyễn Đình Bảo đã tử trận. (Căn cứ chính của BCH/TĐ với TĐ Trưởng Nguyễn Đình Bảo và TĐ Phó, Thiếu Tá Mễ lại là C2, còn C tên chính thức trên phóng đồ là do Đại Đội 111 đóng).

Sau 17 ngày hành quân riêng lẻ, Đại Đội 4 của Tr/Úy Chánh lại được trả về Tiểu Đoàn, chuẩn bị hoán đổi cho 1 Tiểu Đoàn Dù nhận nhiệm vụ khác.

Sáng ngày 19 -4-1972, Tiểu Đoàn 11 BĐQ được lệnh sẵn sàng “trực thăng vận”. Tôi tháp tùng Thiếu Tá Ngô Văn Mai-Tiểu Đoàn Trưởng, và Trung Úy Phan Văn Hải-Trưởng Ban 3, đến BCH Lữ Đoàn 2 Dù ở Căn Cứ Lam Sơn gần Võ Định để nhận Lệnh Hành Quân, Phóng Đồ và Đặc Lệnh Truyền Tin. Thiếu Tá Mai và Đại Úy Hải vô họp, còn tôi qua bên Ban Truyền Tin. Tiếp tôi là một ông Thượng Sĩ, dáng hơi lùn, hơi mập, người Bắc tên Thập. Ông ta đôi điều ba chuyện cho tôi biết là tình hình rất “găng”. Khi trao Đặc Lệnh Truyền Tin cho tôi, ông dặn đi dặn lại về chuyện bảo mật khiến tôi phải phì cười. Tôi đã trả lời ông rằng chuyện bảo mật tuy không phải là vô ích, nhưng không hoàn toàn an toàn như mình mong đợi.

Ngay buổi chiều hôm đó, trực thăng đã bốc Tiểu Đoàn 11 BĐQ vào vùng để hoán đổi với Tiểu Đoàn 2 Dù tại căn cứ Delta.

Đây là ngọn đồi cao nhất trong dãy núi nằm ở Tây Bắc thị xã Kontum, phía Nam căn cứ Tân Cảnh. Trên bản đồ, cao độ của đồi là 1,049 m, còn trong thực thế chỉ cao hơn mặt đất khoảng 250 – 300m. Điạ điểm rất thuận lợi cho viêc đóng quân vì với cao độ như vậy địch rất khó trèo lên tấn công, xe tăng địch cũng không thể lên tới được. Nhưng điạ điểm này cũng là vị trí “hứng pháo thoải mái” vì địch có thể chiêm ngưỡng tác phẩm của mình khi bắn đi và sau đó điều chỉnh cho chính xác đến độ từng mét được!

Quả thật, trực thăng vừa đổ toán của tôi xuống đã vội cất cánh ngay, trong khi những người lính Dù đang ở trong những giao thông hào chờ chuyển quân vội ngoắc chúng tôi nhảy xuống hoặc chui vào hầm ngay. Tôi vừa vào được một căn hầm thì mặt đất rung rinh bởi những tiếng ầm ầm, vì bọn VC thấy trực thăng chuyển quân đến nên chúng pháo “chào mừng”. (Thật quá lịch sự!) Tiếc thay đây lại là trò chơi dại dột thiếu tính toán bởi lẽ trên đầu chúng còn 1 chiếc OV10 đang lặng lẽ bay lòng vòng quan sát và thêm 4 chiếc Cobra như những chú cá mập đang bay quanh đội hình chuyển quân của những chiếc UH1B. Khi phát giác thấy những điểm đặt súng của địch, 4 chiếc Cobra vội quay đầu vào mục tiêu rồi chúi mũi rót rocket vô. Các trái đạn được phóng đi từ 4 chiếc trực thăng nổ ròn rã trên mục tiêu, khóa họng những khẩu pháo hỗn xược và chắc cũng tiễn đưa bọn pháo thủ ngu xuẩn xuống địa ngục để đền tội ác!

Sau loạt pháo “chào mừng” Tiểu Đoán 11 BĐQ hoán đổi nhiệm vụ với Tiểu Đoàn 2 Dù, tình hình trở lại yên tĩnh cho đến tối. Khi những toán Dù cuối cùng rời khỏi trận địa thì không một tiếng hoả tiễn nào dám bắn lên Delta nữa.

Ngày 14 Tháng Tư, 9 “box” B52 đến san bằng Charlie.

Theo báo chí VC và những thông tin địa phương thì ngày nay, hầu như từ người tài xế xe ôm, tài xế xe lam cho tới người bán hàng rong ở Kontum nếu được hỏi ai cũng sẵn sàng chỉ cho biết Charlie ở đâu. Họ sẵn sàng đưa du khách đi thăm cứ địa nổi tiếng một thời đó. Dĩ nhiên nơi đó cũng có một đài “Tổ Quốc Ghi Công” để vô tình xác nhận với hậu thế rằng VC cũng đổ rất nhiều xương máu nơi chiến địa này, mặc dù chúng luôn tìm cách lấp liếm những thương vong trong cuộc chiến. Nhưng theo tôi, chính những chiến công oai hùng của TĐ 11 Dù, với sự hy sinh của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, sau này được Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh viết thành ca khúc Người Ở Lại Charlie nổi tiếng, mới khiến mọi người chú ý để trở thành điểm thu hút khách du lịch, chứ không ai rảnh đâu để đến thăm trận địa có VC chết!

Cần nói thêm về những căn cứ hỏa lực của Dù, tâm điểm là ngọn đồi Charlie. Đây chỉ là tên gọi trên Phóng Đồ Hành Quân của Lữ Đoàn 2 Dù còn thực ra đồi này không có tên, nếu có chỉ là những vòng cao độ. Charlie là một cứ điểm cũ của Quân Đội Hoa Kỳ để lại, trên bản đồ cao khoảng 900m so với mực nước biển, nhưng trên thực tế chỉ cao chừng 150m so với chung quanh, cách Quốc Lộ 14 khoảng 10km về hướng Tây, cách biên giới Việt-Miên chừng hơn 30km, nơi có nhiều nhánh rẽ của đường mòn chiến lược Hồ chí Minh.

Để đề phòng Cộng quân Bắc Việt xâm nhập Kontum, Quân Đội Hoa Kỳ đã thiết lập hệ thống phòng thủ quy mô tạo nên một vành đai chắn ngang từ Benhet tới Polei Kleng. Sau đó 3 căn cứ CIDG là Benhet, Dakto, Polei Kleng của Hoa Kỳ trên vành đai này đã là nơi đóng quân của những tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng. Hai căn cứ khác được giao cho Trung Đoàn 42 Bộ Binh là Căn Cứ 5 và Căn Cứ 6 ở về phía Tây Nam Tân Cảnh, khoảng giữa đoạn đường từ Tân Cảnh về Võ Định, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Đoàn 22 BB. Một loạt những căn cứ cũ bị bỏ hoang từ trước đó nay được Dù khôi phục lại để phục vụ cho cuộc hành quân này. Chúng ta có thể kể đến Yankee (Y), Charlie (C), Delta (D), Hotel (H).

Trong cuộc hành quân, ngoài Tiểu Đoàn Pháo Binh đặt tại Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn ở căn cứ Lam Sơn gần Võ Định, Dù còn thêm một căn cứ hỏa lực pháo binh nữa là Yankee có cả pháo binh 155 ly. Charlie cách Delta khoảng 5km. Căn cứ Hotel hay Hồng Hà nằm ngay sau Delta và thông nhau bằng một yên ngựa khá phẳng dài chừng hơn 1km. Hotel có mặt sau là một vách núi cao án ngữ phía Tây nên không bị pháo VC rót tới. Nó cũng chỉ là khoảng đất bằng phẳng dài chừng vài ba trăm mét với phiá Đông là thung lũng sâu ngút ngàn.

Nói về Chalie người người chỉ nghĩ đến đó là một địa điểm. Ngay cả nhà văn Phan Nhật Nam khi nói về Charlie cũng chỉ mô tả như “One point on the map” (Charlie hay Cải Cách). Thực ra, căn cứ chính tức điểm trên phóng đồ là C lại do Đại Đội 111 của Tiểu Đoàn 11 Dù trấn giữ, còn BCH TĐ 11 Dù lại ở một vị trí khác mang tên C2 cách đó khoảng hơn nửa km về phía Nam. Cũng thế họ đã bố trí lực lượng thành nhiều cứ điểm chung quanh, mỗi cứ điểm là 1 Đại Đội. Cách bố trí như vậy có lợi vì có thể phòng thủ và hoạt động trên một phạm vi rộng hơn, đồng thời tránh được địch tập trung pháo kích. Chiến thuật đem những Tiểu Đoàn Dù chiến đấu tinh nhuệ ra lập căn cứ, giữ chốt quả thật khó hiểu, giờ lại tới phiên Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân, một đơn vị cơ động tinh nhuệ của BĐQ Vùng 2 bị trói chân trên một sườn đồi.

Căn cứ Delta có lẽ do Công Binh Dù mới xây dựng nên vẫn còn mùi đất mới chứ không phải mùi ẩm thấp. Giữa đồi là những căn hầm kiên cố của Bộ Chỉ Huy và các ban. Có tất cả 5 căn hầm lớn và rất nhiều hầm nhỏ được nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào chằng chịt sâu chừng một mét. Ngoài những hầm dùng cho người ở, họ còn thiết lập thêm những hầm làm kho dự trữ lương thực và nước uống. Có khá nhiều gạo xấy, thịt hộp được Tiểu Đoàn 2 Dù bàn giao lại cho chúng tôi, chưa kể khoảng 500 ống bằng đạn 155 ly đựng nước uống.

Đồi Delta này khá hẹp nên ngoài BCH Tiểu Đoàn chỉ có thể bố trí Đại Đội 1 của Trung Úy Nguyễn Hùng ở chung. Đại Đội 3 của Thiếu Úy Bùi Đăng Thủy được trấn giữ căn cứ Hotel, lo việc tiếp tế và tải thương. Đại Đội 2 của Trung Úy Huỳnh Trọng Hà và Đại Đội 4 của Trung Úy Trần Cao Chánh được bố trí về hướng Bắc trên 1 bình nguyên tương đối thoai thoải và thấp hơn, mà trên phóng đồ ghi là D2, D3.

Thời gian đóng quân ở Delta chừng hơn một tuần lễ. Ngày ngày chúng tôi “ăn” hàng trăm trái pháo đủ loại, thỉnh thoảng “đón tiếp” địch leo từ những triền đồi hướng Bắc lên tấn công. Bọn chúng chọn hướng này vì có sườn đồi tương đối thoai thoải lại thêm có ít cây cối còn sót lại, dễ ẩn nấp và bám sát. Nhưng đây lại là mồ chôn bọn chúng, vì chung quanh khu vực này là những hàng rào mìn Claymore mà Tiểu Đoàn 2 Dù gài sẵn và để lại, với những “con cóc mìn” được để tập trung tại các ụ súng trong giao thông hào. Với kinh nghiệm tác chiến có thừa, nhất là các hạ sĩ quan kỳ cựu, các binh sĩ cứ thư thả để địch vào hẳn khu vực hiệu quả rồi bấm “con cóc”. Quả nhiên, khi bọn chúng vào hẳn tầm sát thương thì từng trái “claymore” ròn rã nổ, đã tiễn đưa đám bộ đội vô thần qua bên kia thế giới.

Nhiều ngày như vậy không ăn thua gì, bọn Cộng quân bỏ hẳn không dám tấn công bằng đặc công hoặc bộ đội nữa, chúng quay lại bài bản cũ tiếp tục tăng cường pháo kích. Không hiểu chúng được tiếp tế bằng cách nào mà hàng ngày chúng rót cả mấy trăm trái pháo đủ loại lên đồi. Qua khai thác tù binh, chúng tôi chỉ biết đạn dược được vận chuyển gần như hoàn toàn bằng sức người gọi là dân công, mỗi người mang được tối đa 4-5 trái cối 61 ly hoặc 2 trái cối 82 ly trong những chiếc gùi cõng trên lưng. Với những loại đạn pháo lớn như 130 ly hoặc hỏa tiễn 122 ly thì không hiểu chúng làm cách nào vận chuyển được mà lại có số lượng nhiều đến như vậy?

Sau này, ngã ngũ ra tôi mới biết rõ tất cả đạn dược đều được Kampuchia bí mật vận chuyển từ Trung Cộng về qua cảng Sihanoukville, rồi từ đó giao lại cho Cục R vận chuyển công khai trên đất Miên tới biên giới. Đám dân công chỉ là cái bình phong che mắt để lấy tiếng với quốc tế!

Ngày thứ 5 tính từ khi nhảy vào Delta, tức ngày 23 Tháng Tư năm 1972, hầm tôi lãnh nguyên một trái 122 ly loại xuyên phá. Cũng may trái đạn chỉ đánh xập cửa hầm, còn mấy trái khác lại nổ ngay trên nóc hầm. Tuy tôi thoát chết nhưng binh sĩ dưới quyền thì 1 tử thương 4 bị thương nặng. Sau khi băng bó xong tôi cho tản thương họ qua căn cứ Hotel phía sau để chờ trực thăng đưa ra. Vậy là tôi còn trơ trọi một mình! Do hầm quá tối và hơi ngộp nên những binh sĩ dưới quyền thường kéo nhau ra cửa hầm ngồi cho thoáng. Chính vì thế nên định mệnh chiếu cố tới!

Sau lúc cửa hầm tôi bị bắn xập thì đến hầm của Thượng Sĩ Đương cũng bị xuyên lủng. Không chỉ Th/S Đương mà còn thêm 3 y tá nữa cũng đi theo ông! Một trái 122 ly oan nghiệt xuyên phá ngay giữa hầm và nổ ngay bên trong. Trong hầm của tôi, vì là hầm Truyền Tin nên lúc nào cũng dự trữ sẵn vài máy PRC 25 để phòng thay thế. Cũng rất may là anh em Dù đã để lại cả kho nên tôi có đủ pin dự trữ. Nhưng tôi không dám dùng pin mới để thắp đèn, mà tận dụng những cục cũ để thắp một bóng 6 volt cho đỡ tối. Bên BCH thì được dùng thoải mái pin mới để thắp bóng 12 volt, đủ ánh sáng mà làm việc.

Cho đến giờ phút này thì Cộng quân không dám tấn công lên nữa, nhưng chúng lại pháo kích ác liệt hơn bằng những loại pháo hạng nặng như 130 ly và hỏa tiễn xuyên phá 122 ly. Số thương vong ngày càng lớn, nhất là phía 3 Đại Đội vì hầm hố không đủ kiên cố, phía BCH Tiểu Đoàn thì Trung Đội Vũ Khí Nặng của Thượng Sĩ Hóa cũng chỉ còn mấy người. Tôi nhớ khá rõ quân số của Tiểu Đoàn khi vào vùng là 647 người nhưng đến ngày rời Delta chỉ còn hơn 300! Hơn 300 chiến binh đã “giã từ vũ khí” trong chỉ hơn 1 tuần lễ ngắn ngủi “trấn thủ lưu đồn” lãng nhách!

Thực ra với cái đồi đó không cần phải mang một đại đội đến trấn thủ. Một trung đội cũng đã quá nhiều bởi lẽ chỉ có hướng Bắc là địch có thể leo lên, mà cho dù có leo lên được thì cũng không thể mang nhiều đạn dược. Hầu như mỗi cán binh VC chỉ có vài băng đạn AK, rất ít lựu đạn, và không anh nào có lương thực mang theo. Trang bị như vậy thì đánh đấm nỗi gì?! Chưa kể là ở trên đó thì lấy nước đâu mà uống, dòng sông Pokơ lượn lờ phía đông cũng cách xa tới 5km. Với độ cao như vậy làm sao có thể lên xuống đó để lấy nước?

Do địa thế cao vượt khỏi mọi chướng ngại nên từ Delta chỉ với anten 7 đoạn chúng tôi cũng có thể liên lạc thường xuyên với hậu cứ ở Biển Hồ, Pleiku xa trên 50km. Ngay khi cửa hầm tôi bị pháo xập, Bắc Hải (Trưởng Ban 3) đã báo về hậu cứ là thày trò tôi “tiêu” rồi, trong khi tôi đang gỡ những bao cát bị đổ đè trên người những người lính để đưa họ vô sâu hơn trong hầm và băng bó sơ cứu cho họ. Rồi lại cũng một mình tôi phải dọn sạch cửa hầm để lấy lối ra gọi y tá và người tới khiêng họ đi. Đến lúc đó mới biết là tôi vẫn còn sống mà lại không bị gì hết.

Cái phiền hà lớn nhất của tôi giờ này chính là không còn người giúp việc ngoài 2 âm thoại viên trực máy với BCH. Thôi thì đành để họ làm việc 24/24 vậy chứ biết sao bây giờ, nhà binh mà “dĩ biến phải tùng quyền thôi”. Riêng tôi thì từ giờ phút này phải đảm nhiệm công việc mã và giải mã công điện. Mọi liên lạc qua lại đều phải mã hóa, riêng công điện thì phải mật mã hóa, mà chìa khóa mật mã chỉ mình tôi nắm! Thế là đang rảnh rang tôi bị tất bật suốt ngày…

Ngày 24 Tháng Tư, tôi lại nhận một tin khác không vui qua máy truyền tin PRC 25: Căn Cứ Tân Cảnh đã bị địch quân tràn ngập, Đại Tá Lê Đức Đạt hy sinh tại căn cứ. Ngay chiều đó, địch đã xử dụng những đại bác của ta bỏ lại ở Tân Cảnh “gởi quà” đến chúng tôi. Từng trái đạn 105 ly, 155 ly nổ ròn rã trên Delta. Thiếu Úy Lễ, Sĩ Quan đề lô đi theo BCH Tiểu Đoàn, thất sắc nói với chúng tôi,

– “Nó mà căn delay là không còn đất sống vì đạn delay 155 ly sâu cả 2 m mới nổ. Hầm này chịu cũng không nổi đâu!”

Nhưng dù địch không biết chỉnh delay thì những viên 155 ly nổ cũng ác liệt hơn hẳn 130 ly của VC. Tiếng nổ đanh hơn, ròn hơn và cũng lớn hơn, chấn động cũng mạnh hơn nhiều. Từ trước tới giờ chưa khi nào chúng tôi tưởng tượng được sức công phá của những trái đạn 155 ly “hiền hòa” lại dữ dội đến như vậy. Mặt đất rung chuyển sau từng đợt đạn nổ, và số thương vong cũng bắt đầu tăng lên, tiếng í ới của những binh sĩ bị thương kêu cứu càng lúc càng nhiều. TĐT vội ra lệnh cho tôi gọi Không Trợ. Khi những chiếc máy bay OV10 của Không Lực Hoa Kỳ hoặc L19 của Phi Trường Cù Hanh lên vùng thì địch im vì sợ lộ mục tiêu làm mồi cho A 37 hoặc F 5. Khi những chiếc này quay về chúng lại tiếp tục “làm hỗn”. Lợi dụng lúc địch im tiếng pháo chúng tôi cho tải thương qua Căn Cứ Hồng Hà để trực thăng đến tải thương và sau đó bốc những binh sĩ đã hy sinh về bệnh viện dã chiến.

Tính cho đến khi được lệnh rút khỏi căn cứ, Tiểu Đoàn không để một binh sĩ nào nằm lại với Delta. Bởi vậy ngay sau pass trực thăng cuối cùng rời căn cứ, B52 đã thoải mái rải thảm bom xuống khu vực. Tôi nghĩ đây là một chiến thuật của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt địch.

(Sau này theo một số tài liệu của VC thì chính tướng VC là Hoàng Minh Thảo, tư lệnh chiến trường Tây Nguyên, báo cáo về Bắc Bộ Phủ rằng chúng đã thiệt hại trên 10,000 tên trong chiến dịch này. Đây chỉ là con số báo cáo giả mà VC phải tiết lộ. Theo ước tính của người Mỹ và VNCH thì khoảng 25,000.)

Ngay từ những pass trực thăng đầu tiên tôi đã được theo BCH/TĐ rời vùng. Cảm giác đầu tiên khi xuống khỏi trực thăng đó là “hoàn hồn”, như được sống lại sau hơn một tuần lễ căng thẳng trong địa ngục. Gặp lại một số bạn bè trong đơn vị đang từng người nhảy khỏi trực thăng, chúng tôi ôm nhau mừng mừng tủi tủi, sau khi kiểm điểm lại những ai mất ai bị thương.

Lòng tôi không khỏi trĩu nặng khi nghĩ đến viên trung sĩ, đã hy sinh ngay tại cửa hầm của tôi, và 4 người lính khác đang nằm bịnh viện. Quả thật trong chiến tranh, không thể tính toán gì được về cái sống và chết của mỗi người, chỉ còn trông cậy vào 2 chữ Hên Xui – Vận Số, hoặc nhờ các Thần Linh che chở mà thôi.

Tư Kiên


GIÀY SAUT TRONG TỬ ĐỊA

( Chân thành cảm ơn:

Đại úy Trần Văn Quy, Tiểu Đoàn Phó TĐ37BĐQ

Đại úy Trần Văn Vương, Đại Đội Trưởng ĐĐ3/ TĐ37BĐQ

đã giúp phối kiểm một số chi tiết trong bài viết )

Thứ Ba 01-04-1974 . 06H30

Sáng sớm Đại Đội Trưởng Trần Văn Vương kéo tôi về nhà ông ở Hòa Mỹ để ăn sáng với gia đình. Chỉ đơn giản có món xôi và cà phê nhưng buổi điểm tâm thật ấm lòng. Bà Vương và cô con gái luôn miệng nhắc chúng tôi: Đại úy Vương, người tài xế, và tôi “ ăn cho no bụng để lấy sức đi đường! “. Trong vòm sáng của thoáng bình minh vờn qua cửa, ánh mắt của người vợ Lính đã nói lên tất cả. Vì vậy, phút giã từ chỉ cô đọng trong lời chúc bình an của người ở lại và câu dặn dò của chinh nhân với vợ con : “ Mẹ lo cho mấy đứa dùm Bố. Con nhớ nhắc các em chăm lo bài vở. Ráng học nghe! “ Biết lúc đi. Không biết ngày về. Người Lính nén tiếng thở dài, đón lấy một gói giấy từ tay vợ rồi quay lưng leo nhanh lên xe. Bên khung cửa là đôi mắt đượm nét âu lo, và một bàn tay khẽ vẫy.

8H00 – Tiểu Đoàn lại chuẩn bị lên đường sau một tháng dưỡng quân và bổ sung quân số. Lính lại trở về với ngăn nắp, trật tự và kỷ luật cố hữu. Mọi sự chuẩn bị đều được thực hiện gọn gàng và mau chóng về mọi mặt. Thời gian còn lại là chờ đoàn xe Tiếp Vận đến đón. Vẫn là cảnh quyến luyến của vợ con lính từ trại gia binh kéo lên đứng đầy trước cổng của hậu cứ. Vẫn là những tiếng cười hồn nhiên của tuổi trẻ độc thân quanh những câu chuyện kể xen kẽ với vài ánh mắt đăm chiêu sau làn khói thuốc. Lệnh hành quân đã được loan báo chính thức dù ai nấy đều đoán biết là Tiểu Đoàn sẽ vào Quảng Ngãi vì 21 và 39 đã có mặt trong đó từ lâu. Vùng nào thì chưa biết nhưng “…Lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm …” là chuyện thường tình của Lính trận. Đi đâu cũng được vì…” Lính mà Em! …”

10H00- Trời bỗng chuyển mây mưa. Mặt trời trốn biệt tăm sau màu xám ẩm thấp. Hơi lạnh từ Hải Vân và Trường Sơn đổ xuống, gặp gió từ biển tràn lên tạo thành những cơn xoáy thốc mịt mù. Lính tuần tự lên xe. Kiểm điểm quân số lần cuối. Khởi hành. Vợ con lính co ro đứng nhìn theo đoàn xe hơn 20 chiếc từ từ lăn bánh. Cư dân Phú Lộc cũng gởi theo người thân, chiến hữu, và bạn bè những ánh mắt thân tình pha lẫn âu lo khi GMC chậm rãi vượt qua phố chợ và khu gia binh của Liên Đoàn. Đó đây là một vài nụ cười, vài bàn tay giơ cao, khẽ vẫy từ dưới đường, còn trên xe là tiếng cười đùa, chọc ghẹo của lính trẻ. Lính là vậy: hồn nhiên và…bất sá!

Đoàn xe trực chỉ xuôi nam, vừa chạy qua Miếu Bông thì trời đổ mưa làm nhòa đi cảnh vật hai bên đường. Mưa suốt chuyến hành trình. Không lớn, không nhỏ, nhưng cũng đủ để mọi người trùm kín poncho để tránh gió và chống lạnh. Không còn ai thích thú chuyện trò như khi còn trong Đà Nẵng. Đường vắng, nhưng trơn trợt vì sình đất từ hai bên lề túa ra lấm lem nên đoàn công voa chạy chậm hơn bình thường. Phố thị ven quốc lộ lần lượt lùi lại phía sau. Xe qua Tam Kỳ. Thị xã kiêm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Tín khiêm nhường sinh hoạt dưới mưa. Phố vắng càng thêm vắng vì phố chính chỉ là hai dãy nhà nhìn nhau ven quốc lộ. Chưa bao lâu thì đã đến Chu Lai. Tại đây, đường xá thênh thang như muốn tạo vẻ cân xứng với tầm vóc của căn cứ và phi trường quân sự lẫn dân chính vốn chỉ đứng sau Đà Nẵng.

13H00. Quảng Ngải là đây! Thành phố của núi Ấn, sông Trà, của những danh nhân và dũng tướng như Trần Quang Diệu, Trương Định, Huỳnh Thúc Kháng hôm nay trầm ngâm và lạnh lùng nhìn theo người Lính xuôi nam…. Xe chầm chậm lướt qua phố chính của thị xã. Hàng quán bên đường, nhứt là những quán cà phê, trông cũng bề thế không thua gì ở phố Đà Nẵng. Mưa vẫn còn dầy hạt nên ngọn Thiên Bút chỉ là một khối mờ bên quốc lộ. Ra khỏi phố, đoàn quân xa thong thả lăn bánh, thẳng vào địa phận quận Mộ Đức rồi dừng lại khi vừa qua khỏi núi Điệp.

Mộ Đức của chim mía, mạch nha, cá chuồn, cây thuốc lá và đường tán thơm lừng không xa lạ gì với Liên Đoàn 12 Biệt Động Quân chúng tôi: đơn vị Tổng Trừ Bị của Quân Đoàn 1. Từ 1965 tới nay, Lính Mũ Nâu cứ đến rồi đi. Đánh đấm không biết bao nhiêu lần tại vùng này, đến độ ai đó đã có câu “ Muốn lên lon thì đi Thạch Trụ…” để nói đến mức độ nóng bỏng của một địa danh nổi tiếng trong quận. Lính xuống xe đổ quân hai bên đường. Hành trình 160km tính từ hậu cứ Phú Lộc, thuộc vùng ngoại ô phía nam Đà Nẵng, đến ngay Mộ Đức không dài, nhưng đủ để mọi người ngất ngư, và đã bắt đầu thấy đói và lạnh run vì gió mưa dai dẳng.

15H30. Mới vừa nhai vội, nuốt nhanh một ít gạo xấy, thịt hộp, là có lệnh di chuyển. Mưa vẫn rơi, gió vẫn rít từng cơn. Cả Tiểu Đoàn rời quốc lộ, di chuyển theo đội hình hành quân dọc con đường đất dẫn về hướng đông. Trên bản đồ là một lằn đen đứt quãng chạy mút xuống một khu vực dân cư nằm sát biển. Ngoài địa hình là một con đường làng nhòe nhoẹt bùn đất. Bùn dính vào giày dẻo ngoe. Lính ghì tay súng, oằn lưng vì ba lô quá tải, trông chẳng khác gì những bóng lạc đà đang bước chậm. Nhà cửa thưa dần, người chẳng thấy đâu. Ruộng vườn cũng hòa vào khung cảnh bàng bạc của màn nước và của mây mưa xám ngắt. Bốn cây số lầy lội đủ để làm mỏi những cặp giò chai đá nhứt nên mọi người thở phào khoan khoái khi vào đến

vùng hành quân vì trời cũng vừa tạnh mưa, và cũng vì thấp thoáng dọc theo hai dãy nhà của xã Đức Lương là những chiếc nón lá và bóng dáng đủ làm Lính…tròn xoe mắt. Phần còn lại trong ngày chỉ là nhận vị trí, rồi chuẩn bị hầm hố qua đêm thì cũng vừa xong ngày đầu ra quân của Tiểu Đòan 37 BĐQ sau đúng một tháng “ thất nghiệp “.

Chúa nhựt 06-04-1974 . 11H00

Đức Lương, cũng như phần đông các nơi khác, vốn là xã xôi đậu, từ lâu đã là cái gai khó nhổ của Chi Khu Mộ Đức. Lính đến, du kích rút vào các thôn làng bỏ hoang từ lâu. Lính đi, đám chuột nhắt lại bò ra tác quái. Cứ vậy mà người dân nào còn trung thành với miếng đất cha ông để lại đã phải chịu đựng và nín thở lặn hụp giữa hai làn nước. Cho đến lúc sau này, khi quân đội Mỹ rút quân thì tình hình tại Đức Lương càng thêm nghiêm trọng. Vì vậy Tiểu Khu Quảng Ngãi phải nhờ Biệt Động Quân tăng phái để giúp giải tỏa áp lực địch tại ngay hướng chính đông của Mộ Đức. Công tác của Tiểu Đoàn 37BĐQ là bình định, an dân. Bình định thì không khó, nhưng dân có an hay không lại là chuyện khác. Mấy ngày rồi mà dân chúng chưa chịu tích cực phá bỏ những hầm nổi và các hàng cây, hay lùm, bụi rậm rạp quanh nhà và ngoài bìa làng. Dân không làm thì Lính xăn tay áo nhào vô. Rốt cuộc, công việc chính của Tiểu Đoàn là tảo thanh và …phát quang để du kích không có chỗ ẩn núp và len lỏi về thôn xóm. Lính phá hầm, hạ cây thì dân đứng nhìn. Họ bất cộng tác cũng phải vì ly’‎ do bảo vệ an ninh cho xã ấp không đủ sức thuyết phục họ. Biết dân ngấm ngầm bất mãn, nhưng nhiệm vụ được giao thì Lính phải thi hành triệt để. Do đó đã có lời ta thán đó đây và hằng đêm đã có điệp khúc “…đồng bào hãy nhứt tề vùng lên dẹp tan bè lũ bạo quyền… “ từ loa phát thanh lưu động của đám du kích địa phương.

Thứ bảy 12-04-1974 13H00

Đơn vị tiến dần từ hướng nam lên phía bắc. Mới đó mà đã gần hai tuần! Thời gian đủ dài để sang bằng những hầm nổi, rào dậu, lau lách, cây cỏ trong và chung quanh xã. Tầm nhìn quang đảng hơn, xa hơn. Dân cũng bớt ta thán, nghi kỵ vì vô hình chung Lính đã giúp họ sửa sang lại bộ mặt của thôn làng. Nhờ vậy đã có những ánh mắt và nụ cười thân thiện hơn và những câu chuyện cởi mở hơn so với lúc mới vào vùng. Đã có câu mời chào của các vị bô lão, những thẹn thùng e ấp của những mái tóc dài mới mấy ngày trước còn mang nét nghi ngại gần như bất cộng tác về mọi mặt. Và từ đó Lính biết thêm nhiều điều thú vị về Đức Lương, đặc biệt là kỹ thuật trồng cây thuốc lá và cách chăm bón đất thật giản dị nhưng khó khăn, khổ sở và…khó ngửi vì phải cần đến …phân người! Muốn có thứ này thì ngày xưa người ta phải đi hằng chục cây số, càn quét các cánh đồng- cũng là nhà xí lộ thiên trong vùng- để lượm lặt rồi gánh về bón đất trồng. Nghe kể mà bất chợt nhìn lại Capstan, Ruby “ Quân Tiếp Vụ “, Bastos, Mélia và cả những loại thuốc “ sang “ như President mà cảm thấy muốn …ớn lạnh!

Nhưng Lính không dậm chân tại chỗ. Hôm nay Trung Đội lại có lệnh di chuyển lên vùng cực bắc của Đức Lương, là vùng hoạt động công khai của du kích với căn cứ địa là những thôn xóm bỏ hoang từ khi quân đội Mỹ mới đến. Gần một chục năm nhà không vườn trống nên làng Văn Bân chỉ còn là những “ mụn cám “ trên bản đồ, còn làng Hoài An cạnh đồi Van Bang đã là một ốc đảo với không đầy một chục nóc gia. Đại Đội 3 được lệnh đóng quân tại đây. Và Trung Đội 1 trở thành tiền đồn trên cao độ 60 mét của Van Bang.

– Sao tên ngọn đồi nghe lạ quá vậy bác Hai?!

– Tui cũng không biết.

Người lão niên sống bằng nghề trồng cây thuốc lá và bắt dong ven biển lắc đầu. Người dân địa phương không biết. Vậy thì chuyên viên in bản đồ của Nha Địa Dư đã quên bỏ dấu cho hai chữ Van Bang không chừng!? Nhưng dù sao thì cái tên khó đọc này lại dễ nhớ đời vì giữa trưa hôm nay Lính phải gò lưng đội nắng để leo dốc. Sau đó, những nhát cuốc bổ xuống đá ong dội vào tay đau điếng làm chúng tôi lắc đầu, ngao ngán. Nhưng phồng tay, nhức lưng thì cũng phải lo cho xong hầm hố và tuyến phòng thủ. Vừa xong mọi thứ là đã chói chang ráng chiều. Màu vàng của nắng, màu nâu của đá ong, màu cam của dải đồi nhấp nhô chạy mút tầm mắt về phía tây để hòa vào màn xanh mờ mờ của núi Điệp tạo thành một bức tranh lạ mắt nhưng hài hòa của thiên nhiên. Lính thay nhau “ hạ san “ để tắm giặt và cũng để tạt qua làng nhìn “ nẫu “ cho đỡ ghiền. Trong khung cảnh hoàng hôn, đâu là vị trí súng của pháo binh Mỹ mấy năm trước đây? Đâu là ranh giới của đất lành và mìn bẫy mà Đại úy Vương đã hết lòng căn dặn phải hết sức cẩn thận? Đâu là vùng đất chết mà du kích đã thông báo cho dân biết và chính đám chuột nhắt cũng đã từ lâu không dám đặt bước tới?

Thứ năm 16-04-1974.18H00

Đồi trọc. Khô khốc. Ngồi chờ trực thăng tải thương mà buồn ơi muốn khóc! Vùng tử địa với mìn nội hóa đóng vai tử thần giăng bẫy. Khoảng đất rộng đủ cho cả Đại Đội trấn đóng chỉ giao phó cho 20 mạng khai quang bằng giày saut và lưỡi lê vì máy rà mìn Poland của Công Binh hoàn tòan vô hiệu lực. Đành phải dùng mắt mà tìm, dùng lưỡi lê để kiếm và giày saut để rà từng tấc đất. Cả mấy ngày trời mà vẫn chưa xong một nửa ngọn đồi. Công việc càng chậm càng tốt, kỹ lưỡng chừng nào chắc ăn chừng nấy. Đơn giản nhưng hồi hộp như trong phim nghẹt thở. Trung đội dàn hàng ngang, mỗi người cách nhau chừng một sải tay. Lưởi lê cột chặt vào một nhánh tre, cắm phập xuống đất, khoảng cách càng khít khao càng tốt. Xăm tới đâu bước tới đó. Nhưng rồi đến ngày thứ tư cũng đã không tránh khỏi thương vong! Một thằng em cuốn poncho, thêm một đứa bay mất bàn chân khi nhào tới đỡ bạn. Tổng cộng 28 trái mìn nội hóa sau bốn ngày “ chiến đấu với Ma “. Tiếng rên của thằng em càng làm nhói thêm lồng ngực vì không thể chia sớt được nỗi đau thể xác của một con người. Nguyễn Hoàng Minh chạy đua với thời gian và bất chấp tử thần nhưng thua cuộc phải bỏ lại một phần thân thể. Thương bạn và nóng lòng vì bạn nên mới ra nông nỗi. Thật đáng tiếc! Còn Lê Văn An vì bổn phận và trách nhiệm của người lính mà phải bỏ lại mạng sống mình trên đồi máu. Thật đáng buồn!

– ĐM! Tụi nó gài mìn độc quá!

Trung Sĩ nhứt Thái vỗ về thằng em khinh binh rồi trở lại bên tôi bật tiếng chưởi thề. Ông Trung Đội Phó dạn dày trận mạc là người đầu tiên gõ đúng vào trái mìn nội hóa làm bằng lon trái cây, bên trong là thuốc nổ, đinh, vít, và mọi thứ sắt vụn trên đời. Không biết bộ óc khủng bố nào đã nghĩ ra được cách vô hiệu hóa máy rà mìn thật tinh vi bằng cách bao hai lớp nylon lên mảnh ván đặt nằm gọn trên lon mìn, ngòi kích hỏa là một cây đinh đóng xuyên qua ván và cắm thẳng vào lon có ngòi nổ là một vỏ đạn M16. Mọi thứ còn khá tốt nhờ nylon cản nước không làm mục gỗ hay ướt thuốc. Dẫm chân trệt qua một bên thì có thể không gây chạm nổ, nhưng đạp ngay trên chiếc đinh thì …chỉ có phép lạ mới làm cho tịt ngòi. Bằng không thì …bay gót, hoặc mất bàn chân nếu là lon nhỏ, hay mất mạng nếu gặp lon cỡ hộp sữa SMA hay lớn hơn!

Khi trực thăng đến tải thương thì mặt trời cũng vừa tắt nắng. Mừng cho đứa em từ nay xa rời cuộc chơi nhưng cũng buồn rười rượi cho một hoa niên đã sớm lìa đời. Nhìn theo cánh quạt khuất dần về phía Quảng Ngãi mà ước thầm được theo về hậu phương an lành. Nhưng Lính không có thì giờ để tần ngần hay tưởng tiếc. Cắm cọc làm dấu những vị trí đã dò xong các loại mìn. Báo cáo trong ngày. Cơm chiều. Chỉnh đốn lại tuyến phòng thủ qua đêm. Cắt đặt canh gát. Công việc vừa xong là đã thấy sao trời lấp lánh. Một ngày lại trôi qua trong đời Lính. Mai này sẽ ra sao?!

Chúa Nhựt 20-04-1974 . 10H00

Khỏang đất dọc theo sườn phía đông của Van Bang vừa được khai quang hòan toàn. Hành lang bề ngang chừng hơn 2 mét và chiều dài trên dưới 100 được chúng tôi bảo đảm không còn mìn bẫy. Mõm đá ven sườn hướng đông là vị trí khá tốt để quan sát khu vực đưới chân đồi, ruộng đồng ngoài bìa làng, và cả núi Cây ở phía bắc. Và chỉ chờ có thế! Tiểu Đoàn tung hai Đại Đội để thăm dò căn cứ địa của đám du kích trong khu vực của ấp Văn Bân. Đại úy Trần Văn Quy, Tiểu Đoàn Phó trực tiếp chỉ huy. Đại Đội 2 nổ lực chính, Đại Đội 3 tiếp ứng.

Cối 81 và 60 ly của Tiểu Đoàn và hai Đại Đội vừa dứt mấy tràng đạn là Đại Đội 2 của Trung úy Hiền xung phong vào làng theo trục Đông Tây. Tại hướng Bắc, Trung Đội 1 và 2 do Thiếu úy Lợi, Đại Đội Phó Đại Đội 3 chỉ huy đã dàn sẵn để chờ địch. Phía Tây là đồng trống, dành cho cối của Tiểu Đoàn và bốn khẩu 105 ly của pháo binh Chi Khu Mộ Đức càn quét khi cần. Tiếng súng nổ dòn dã. Bóng người mất hút vào những hàng cây, bờ dậu. Vài bóng người chạy xuyên qua những khoảng sân thưa hay đất trống. Xa quá không rõ là Mũ Nâu hay du kích. Đại úy Quy vừa theo dõi, vừa buông, chụp ống liên hợp điều binh liên tục. Lính xung phong, tiếng thét nghe vang dội. Âm thanh xen kẽ vào tiếng súng ngắn, dài, tạo thành âm điệu quen thuộc của mặt trận đang sôi động. Thốt nhiên, xen lẫn với tiếng nổ dòn của súng nhỏ là mấy tiếng đùng đùng vang lên gần như cùng một lúc.

– Chết mẹ! Tụi nó dính mìn rồi!

Ông quay sang tôi than một tiếng rồi đứng lên quát tiếp vào PRC25, ra lệnh cho Thiếu úy Lợi đánh ép vào làng để giải tỏa áp lực cho Đại Đội 2, và yêu cầu Trung úy Hiền báo cáo tình hình. Sau một hồi trao đổi là ông ra lệnh cho hai Đại Đội ngưng truy kích và nằm im tại chỗ. Việc tải thương bắt đầu. Cần phải chạy đua với thời gian nên con đường ngắn nhứt, là leo đồi để lên Van Bang chờ trực thăng đến bốc. Mấy họng cối của Tiểu Đoàn và Đại Đội lại khạc đạn vào Văn Bân, làm hàng rào cản để hai Đại Đội tuần tự lui binh về phía bắc làng Hoài An, và từ đó phá bụi, lùm, để mở đường leo dốc. Trên đồi, Trung Sĩ Thái chọn vài khinh binh tình nguyện của Trung Đội rồi dẫn họ và lao công đào binh do Tiểu Đoàn phái lên cùng xâm, dò, phát quang dần xuống để bắt tay với toán tải thương.

Từng giây phút trôi qua là một nỗi lo nghẹt thở vì khoảng cách trên dưới 100 mét dẫn xuống chân đồi chẳng khác gì một “ lối vào tử địa “. Và chuyện gì tới phải tới! Một tiếng nổ vọng lên từ hướng đang mở lối làm mọi người thót tim, khô cổ. Tôi cố lần theo dấu chân, bước xuống mõm đá, nhoài người nhìn xuống phía dưới nhưng không nhìn thấy gì sau mớ bụi cây dày đặc. Một lúc sau thì Trung Sĩ Thái trồi lên, sau lưng ông là hai khinh binh của Trung Đội 1, trên lưng của người đi trước là Lê Văn Chánh, theo sát phía sau là một thằng em đang xòe tay nâng giữ bàn chân bê bết máu và lòi cả xương gót của Chánh đang lủng lẳng theo nhịp bước của đồng đội. Tiếp theo là toán lao công đào binh cùng với “ bánh tét “ và thương binh nặng, nhẹ, nối nhau lần lượt lên đồi. Hai nằm, bốn ngồi, cộng thêm Chánh là bảy tay súng bị loại khỏi vòng chiến. Trong khi đó thì tổn thất của địch không rõ. Gía đắt thật!

Trung Sĩ Thái dừng lại bên tôi, nhìn về phía thằng em đang được y tá băng bó, ông cố nén sự buồn bực bằng tiếng thở dài:

– Lại thêm một đứa gặp “ Ma “. Không tải thương kịp, chắc là nó…

– ĐM! Đã gọi trực thăng rồi. Ông Quy ngắt lời. Sẽ có ngay. Rồi quay qua tôi, ông nói tiếp. Chú mày lo vụ tải thương cho chu đáo nghe. Tao về đi phép vợ đẻ đây! ĐM! Đánh đấm gì mà chỉ gặp toàn là mìn không hà!

Câu nói của Đại úy Quy cũng là lời than của chúng tôi suốt mấy ngày nay. Nhưng nhận lệnh thì phải thi hành. Quân Đội có những lệnh lạc trời ơi đất hỡi như vậy là chuyện thường. Thi hành trước! Than thở sau. Lính mà Em!

Lần này số thương binh gặp may vì chỉ chừng nửa tiếng sau là có chuồn chuồn tới gắp xác. Cánh chim sắt vừa khuất dạng thì đã có kế hoạch mới của Đại Đội: gấp rút dọn bãi mìn trên Van Bang để lập đồn dã chiến. Chúng tôi lắc đầu: lại khổ nữa rồi! Lính quen lưu động, bây giờ phải nằm tại chỗ gánh thêm một trách nhiệm mà không ai muốn nhận lãnh. Đã vậy, Trung đội bây giờ chỉ còn 17 mạng. Thì thôi cũng đành.

Thứ Tư 23-04-1974. 17H00

Chỉ còn một khoảng đất nhỏ là coi như xong công tác dò mìn. Chiều nay Trung Đội dời vị trí phòng thủ đến khu vực vừa dọn xong. Một lô mìn nội hóa đủ cỡ, đủ loại, nằm chất đống bên ngoài tuyến chờ ngày mai dứt điểm toàn bộ ngọn đồi thì sẽ phá hủy một lượt. Đùa với tử thần nên phải trả giá bằng mạng người. ’’ Đòn bánh tét ’’ gói thây đứa em còn nằm đó. Trần Bình xui tận mạng: lạc bước ra ngoài khu vực đã làm dấu để giải quyết nhu cầu cho ’’ đệ tứ khóai ’’ nên đạp phải mìn banh xác. Đã chờ hơn hai tiếng đồng hồ mà vẫn chưa có trực thăng. Bóng nắng đã nghiêng dài nhưng vẫn còn đổ lửa. Ngưng dò mìn để đào hố, căng lều cho kịp buổi tối. Bàn tay phóng dao cả ngày lại phải cầm xẻng phập đất, nạy đá nên bây giờ đã phồng, dộp, đau rát. Căng xong poncho, cột xong võng cho ba thầy trò cùng khoanh chung một chỗ là mỏi nhừ hai tay. Đang cởi giày, tháo vớ cho mát chân thì vài đứa em tà tà đi ngang qua. Một đứa trong bọn kéo lê thanh tre dưới đất, lưỡi lê lòng thòng như muốn sút hẳn ra nên tôi quát gọi tới ngay bên võng.

– ĐM! Lè phè vừa phải thôi nghe! Phải thật chặc như vầy nè!

Vừa chưởi thề, tôi vừa quấn dây cột lưỡi lê lại rồi phóng vài nhát ngay dưới chân. Một tiếng ‘ phụp ‘ khô khan vang lên làm tôi điếng người. Nhìn đầu lưỡi lê cắm ngay giữa đôi giày, tôi thấy lạnh xương sống. Gần một tiếng đồng hồ loay hoay tại chỗ này không lẽ Hồ Viết Sành, Nguyễn Ngọc Thanh và tôi không có lần đạp phải trái mìn này? Nhưng vì sao nó không nổ? Đạp xéo một bên? Hay thuốc nổ tịt ngòi? Phép lạ chăng? Phản ứng đầu tiên là cả đám dạt ra thật nhanh làm cả Trung Đội giựt mình quay lại nhìn. Còn tôi lạnh cẳng ngồi chết trân một hồi lâu mới hoàn hồn. Chưa kịp nói gì thì Tín ‘ lùn ‘ đến bên võng gỡ lưỡi lê của mình rồi thận trọng gạt từng lớp đất mỏng. Miếng ván có bọc nylon hiện ra, đã mục nhưng chưa nát. Chẳng bao lâu sau là cả trái mìn nội hóa được moi lên: một lon dầu ăn, loại thực phẩm viện trợ!

Cả đêm tôi trằn trọc nghĩ ngợi về trái mìn ngay dưới chân mình. Nếu nó phát nổ thì cả ba, hay trong ba thầy trò: tôi, thằng em ô đô, và hiệu thính viên của Trung Đội, chắc chắn phải có người trùm poncho và cho dù bị thương thì cũng sẽ mất máu, hay kiệt sức mà chết vì không có phương tiện tải thương trong đêm nay. Chiếc poncho gói xác Trần Bình vẫn còn nằm tại chỗ. Thỉnh thoảng có người đến đốt thuốc thế nhang rồi cắm trong chén cơm trắng đặt phía trên đầu của đứa em vắn số. Nghi thức tiễn biệt của đồng đội chỉ có thế. Đơn giản mà chí tình. Đọc cho thằng em vài câu kinh mới sực nhớ xâu chuỗi còn nằm trong ngực áo. Lại nghĩ tới một phép lạ nào đó đã cứu cả ba thầy trò chúng tôi không chừng. Và cả đêm thức trắng chỉ để rùng mình nghĩ ngợi và tưởng tượng rồi rù rì với hai thằng em quanh những câu chuyện đa số bắt đầu bằng: Nếu như trái mìn nổ!?…

Thứ Ba 29-04-1974. 14H00

Rồi cũng dọn xong vùng tử địa trên đồi Van Bang sau hai tuần đổi bằng máu, mồ hôi, và cả nước mắt của Lính. Mỗi lần nghe một tiếng nổ, dù là tiếng phá mìn, thì cổ họng như muốn thắt lại. Tiếng nổ dội vào ngực, xoáy trong đầu, tạo cảm giác rùng rợn khi âm thanh dội vào vách đá rồi vang rộng khắp đồi. Chết ngay thì không nói gì, đằng này mìn nội hóa thường giết người dần mòn do mất máu và đau đớn vì cụt giò, mất bàn chân, hay nát bọng đái. Ngày lên đồi cả Trung Đội chúng tôi có 20 người. Bây giờ vẫn là 20, nhưng đã có 5 tân binh vừa mới bổ sung hồi sáng. Số lính mới về được chia đều cho ba Trung Đội vì tổn thất nhân sự gần như ngang nhau sau cuộc rà mìn bằng chân của chúng tôi hay những lần hành quân thăm dò của hai Trung Đội còn lại. Đại Đội 3 te tua nhưng vẫn sẽ là nổ lực chính trong cuộc hành quân vào ngày mai. Mấy hôm nay địch tha hồ bắn tỉa khi chúng tôi dựng tre, cắm cột để nối hàng rào, và hằng đêm, đám du kích hiên ngang đem loa phóng thanh tiến sát chân đồi ” sủa ” liên tục. Đã đến lúc phải hành động!

16H00.

Đại úy Vương họp các Trung Đội Trưởng để chính thức thông báo lệnh của Tiểu Đoàn về việc truy lùng du kích và khai quang toàn bộ khu vực tây bắc dưới chân đồi. Kế hoạch hành quân lần này hơi khác lần trước. Chỉ có Đại Đội 3 trực tiếp tham chiến vì có tin cho biết là du kích đã rút lực lượng nòng cốt khỏi Văn Bân, chỉ để lại một toán nhỏ để tuyên truyền và quấy rối. Đại Đội 4 sẽ đóng vai trò tiếp ứng và giữ an ninh ngoại vi khi thành phần xung kích của Đại Đội 3 đã vào bên trong làng. Sau khi cho biết tình hình và kế hoạch, ” Bố Gìa ” đặt thẳng vấn đề :

– Cả ba Trung Đội đều thiệt hại nặng như nhau nên tôi dành cho quí vị sự lựa chọn. Ai sẽ đi đầu vào ngày mai? Nếu không ai tình nguyện thì tôi sẽ cho bốc thăm. Như vậy là công bằng nhất. ”

Cả ba Trung Đội Trưởng im lặng. Không ai nhìn ai. Căng thẳng. Vương Vũ tỏ dấu hiệu kiên nhẫn chờ đợi bằng cách mồi thuốc hút, nhưng ông chỉ vừa rít hơi khói đầu tiên là đã có câu trả lời.

– Tôi nhận!

Hai tiếng chắc nịch của tôi làm không khí thay đổi ngay lập tức. Ông Vương gật đầu nhìn tôi tỏ vẻ hài lòng. Lê Văn Hữu và Nguyễn Thanh Vân cùng đến vỗ vai tôi, kèm theo những nụ cười thông cảm và câu nói của Vân:

– Tối nay hai ông qua chỗ tui nhậu. Kéo mấy ông phó qua luôn nghe.

Về đến tuyến đóng quân thì mọi người đã biết tin tức cuộc họp. Lính vốn luôn sẵn sàng để chấp nhận mọi hoàn cảnh nên nét lo âu thoáng hiện trên ánh mắt rồi cũng tan biến theo những cợt đùa cố hữu. Vui được lúc nào hay lúc đó nên Lính vẫn hồn nhiên sinh hoạt như trên đời này không có gì để bận tâm ngoại trừ kiểm tra súng đạn để chuẩn bị cho cuộc hẹn với tử thần vào sáng ngày mai. Xong xuôi mọi thứ thì cũng vừa kịp giờ hẹn với Vân và Hữu. Nắng vẫn còn đẹp dù đã xậm màu. Một ngày trong đời lại trôi qua…”Một ngày như mọi ngày ” của Lính!

Thứ Tư 30-04-1974. 9H00

Từng đợt cối thi nhau rót vào mục tiêu. Cuộc hành quân tảo thanh bắt đầu. Lê Văn Hữu cho Trung Đội 2 bám vào bìa làng phía đông rồi dừng tại đó. Còn tôi dẫn Trung Đội 1 vòng qua hướng bắc rồi xông thẳng vào. Từ trên đồi, Đại úy Vương thận trọng điều quân. Ông cho lệnh chúng tôi lục soát từng khu vườn, từng nền nhà hoang rồi tiến dần qua hướng nam, nghĩa là đi ngược lại phía Van Bang, còn Trung Đội 2 của Lê Văn Hữu từ cạnh sườn phía đông chuyển dần qua hướng tây bắc, cắt ngang sau lưng chúng tôi dựa theo địa thế của khu làng. Hướng biển được nhường lại cho Đại Đội 4 dàn quân sẵn sàng tiếp ứng. Khỏang cách lúc đầu tính bằng những hàng dậu hay khoảng sân nhờ Đại úy Vương trên đồi còn nhìn thấy chúng tôi di chuyển, nhưng không bao lâu thì đã bị cây cối che khuất nên thỉnh thoảng phải dừng lại để xác định vị trí và khỏang cách với Trung Đội 2 của Hữu. Không có sự kháng cự nào của địch. Mới tối hôm qua còn ra rả tiếng loa tuyên truyền nghe đến ngứa lỗ tai. Bây giờ thì im lặng hoàn toàn. Chúng nó đã rút đi, hay đang rình rập giăng bẫy phục kích đâu đó không chừng!?

10H00

Văn Bân hoàn toàn bị bỏ hoang đã từ lâu. Nhà cửa chỉ còn lại nền đất và vườn tược, cây cối không có dấu hiệu được chăm sóc. Nhưng dấu chân trên đất cát vẫn còn khá rõ mặc dù một số lớn có dấu hiệu bị xóa đi một cách vội vã. Như vậy, nơi này đúng là căn cứ địa, là vùng bất khả xâm phạm của du kích bấy lâu nay. Lục soát thêm vài khu vườn thì toán khinh binh đi đầu dừng lại. Trung Sĩ Thái trở lại bên tôi và cho biết phía trước có dấu vết của một con đường mòn hình như đã từ lâu không có người qua lại. Tôi mở bản đồ, xác định con đường làng một thời nối Đức Lương với các xã chung quanh, báo cáo với Vương Vũ, rồi dừng tại chỗ chờ Trung Sĩ Cho dẫn Tiểu Đội khinh binh vượt hàng dậu thưa để tiến dần qua khu vườn lân cận. Đến khi người cuối cùng là Nguyễn Văn Tâm vừa bước theo đồng đội thì một tiếng nổ vang lên, hất tung Tâm ” sún ” khỏi mặt đất trong một màn bụi đất dày đặc. Và đó là hình ảnh sau cùng tôi nhìn thấy trước khi bị sức nén đẩy té xuống đất.

Khi tôi lồm cồm ngồi dậy thì Trung Sĩ Thái đang nhìn tôi với nét mặt lo lắng, còn Thanh ” máy ” thì đang lom khom, vừa ngó dáo dát chung quanh vừa báo cáo về Đại Đội. Trong khi đó thì Hồ Viết Sành còn nằm dưới đất chong súng về phía trước.

– Chuẩn úy có sao không?

Trung Sĩ Thái run giọng hỏi tôi. Trong cơn choáng váng, tôi nhìn thấy ông đã không còn cầm súng mà ngược lại, bàn tay phải đang nắm chặt cánh tay trái. Người ông đầy máu. Còn trên tay tôi cũng dính một miếng thịt của ai đó không rõ. Vài vết máu đây đó trên người, nhưng tôi không có cảm giác đau đớn, chỉ thấy hơi tức ngực. Đến lúc này Trung Sĩ Thái mới bàng hoàng rồi trân trối nhìn lại cánh tay đẫm máu của mình.

– ĐM! Sao lạnh quá vậy!

Vừa dứt lời nói sảng là ông ngã xuống, ngất xỉu. Tay vẫn còn nắm vết thương.Tôi choàng qua, gỡ bàn tay phải của ông ra thì mới hay cánh tay trái chỉ còn nối vào người bằng một miếng thịt nhỏ bé ở gần vai, ngay dưới nách. Tôi nghiến răng giựt cánh tay ra rồi đắp vội mảnh băng cá nhân vào vết thương. Hồ Viết Sành nhào qua đỡ người Trung Đội Phó cho Hạ Sĩ Bé chích thuốc cầm máu. Giao ông Thái lại cho người y tá, tôi lật đật ra lệnh cho Trung Sĩ Đặng Tri dàn toán đại liên bên cánh phải, chong súng về hướng bìa làng, đề phòng địch phản kích. Sau đó kéo Thanh ”máy ” và Hồ Viết Sành chạy lên phía trước. Toán khinh có mười người thì đã bỏ cuộc hết năm, nằm bất động, hay oằn oại rên siết. Trung Sĩ Bi và một khinh binh đang lăng xăng lo cho đồng đội kém may mắn, còn mấy người khác thì ngồi ghìm súng về phía trước. Tôi thảy thằng em ô đô vào trám tuyến với khinh binh, ra lệnh mọi người gấp rút đào hố cá nhân, trong khi đó Thanh ”máy ” cũng báo cáo tình hình với Vương Vũ và xin tải thương cấp tốc.

Trở lại phía sau, xem xét tuyến dàn quân của toán đại liên, chôn tạm cánh tay của ông Thái trong một hố đào rất cạn, hối hạ sĩ Bé lên chích thuốc cầm máu và băng bó cho toán khinh binh. Tất cả những gì tôi làm từ lúc lồm cồm ngồi dậy sau khi bị đẩy bật xuống đất cho tới lúc này hoàn toàn là do bản năng. Đầu óc tôi nhẹ tênh, nhưng tôi biết mình đang run và cách duy nhứt để trấn áp nỗi lo sợ là chạy một vòng kiểm tra, gằn giọng rít qua kẽ răng để trấn an thương binh vào năn nỉ họ đừng rên la kẽo địch có thể nắm bắt tình hình và tấn công bất ngờ, lúc chưa có thế phòng thủ vững vàng. Có thể nói cả Trung Đội vùa hoang mang vừa thất thần vì chưa chạm địch mà đã rụng hết 6 mạng. Nhìn chung quanh mới thấy tình cảnh chúng tôi thật thê thảm. Chỉ nội lo cho thương binh cũng đã là một gánh nặng. Mọi người đều phơi nắng. Không ai dám tìm bóng mát vì bóng mát có thể là tử địa. Đúng ra, nơi nào trong khu làng này cũng có thể là tử địa. Đâu ai ngờ bỏ lối mòn, phát đường qua hàng dậu mà đi cũng vướng bẫy. Cái số xui tận mạng đã khiến cho thằng em nhỏ con, thấp người vướng chân vào sợi giây bẫy của đầu đạn 155 ly. Hơn một kí thuốc nổ!

– Chuẩn úy ơi! Đừng bỏ em.

Trong cơn mê sảng, Tâm ” sún ” mở mắt gọi tôi. Tay bi da số một của Liên Đoàn bây giờ chỉ còn nửa người phía trên. Hai chân đã biến mất và vùng hạ bộ chỉ còn là một mớ máu thịt bầy nhầy. Tôi nâng thằng em lên,vừa an ủi, vừa đau lòng lại vừa…sợ một cách bâng quơ. Không chịu nỗi cảnh thằng em bê bết máu, tôi cởi áo lót phần hạ bộ của Tâm, ôm gọn thằng em vào lòng mà có cảm giác như đang ẵm bồng em bé. Nắng khô khốc, nắng giữa trưa của một ngày sắp vào hè nung lửa thật tàn nhẫn. Giữa mồ hôi và nước mắt, tôi không biết thứ nào chảy dần xuống má của vài thằng em đang cắm từng nhát xẻng xuống lớp đất cát khô mịn chung quanh mình.

– Lạnh quá chuẩn úy ơi! Chắc em chết quá!.. ĐM! Thằng Bi đâu rồi… Nước! Cho miếng nước!…

Những tiếng rên la trong cơn mê sảng của Tâm ” sún ” và mấy đứa em vừa được kéo về chỗ Trung Sĩ Thái làm tôi thêm đắng cổ. Bỏ Tâm ” sún ” xuống thì không đành lòng nên tôi ngồi đó ra lệnh cho Thanh ” máy ” hối thúc vụ tải thương, rồi chỉ định Trung Sĩ Đặng Tri, Tiểu Đội Trưởng trưởng đại liên làm phó cho tôi để cùng Trung Sĩ Nguyễn Văn Bi đôn đốc việc đào hố cá nhân và tổ chức phòng thủ. Lê Văn Hữu gởi một toán của Trung Đội 2 mang các thanh tre từ phía sau lên, dự trù sẽ khiêng số thương vong ra phía sau rồi vòng lên đồi theo lối tải thương lần trước, nhưng có lệnh của Vương Vũ nằm tại chỗ chờ Trung Đội 3 của Nguyễn Thanh Vân dò mìn để mở đường theo lối mòn đã từng dẫn thẳng lên đồi lúc xưa. Như vậy chỉ trên 100 mét là thương binh sẽ đến nơi đáp của trực thăng thay vì nửa cây số dằn xóc có thể làm vong mạng khi phải khiêng cáng đi vòng bìa làng. Còn đang lo chỉ nơi dựng poncho che nắng cho thương binh thì có tiếng của Hạ Sĩ Bé.

– Chuẩn úy!… Nó ” đi ” rồi.

Tôi nhìn lại mới hay Tâm ‘’ sún ‘’ đã tắt thở lúc nào không biết. Nhìn ánh mắt thằng em còn mở trừng như muốn cưỡng lại định mệnh nghiệt ngã mà tôi muốn khóc. Chỉ vì thiếu hụt quân số nên vẫn còn giữ nó ở Trung Đội thay vì gởi nó về Tiểu Đoàn cho ấm thân. Lính là vậy đó! Đánh giặc trước, chuyện khác tính sau. Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân vừa mất đi một cao thủ bi da với đường cơ lả lướt và không lần nào dưới 30 điểm mỗi khi chạm banh, ngoại trừ lúc cố ‎tình câu độ! Đưa tay vuốt mắt cho thằng em SàiGòn mà cứ nhớ hoài những lần khoái trá nhìn thằng em lần lượt hạ các hảo thủ của Đà Nẵng, dân cũng như quân, trong những lần đọ sức tại các bàn bi da trên đường Độc Lập suốt một tháng qua.

Tôi thở dài giao xác thằng em cho Hạ Sĩ Bé rồi lần qua hai căn lều vừa dựng xong giữa sân nắng. Một đòn ‘’ bánh tét ‘’ đã gói sẵn. Ba khinh binh khác nằm rên dưới đất. Nặng nhứt là Minh, mới bổ sung hôm qua, bị toát lưng, gãy xương sống, đang nằm sấp rên la từng hồi. Còn lại là tân binh tên Tài bị thương nơi chân và má trái, đang ngồi cúi đầu bập từng hơi thuốc. Nắng đổ lửa trên đầu, hừng hực trên poncho, cháy bỏng trên mặt đất. Đã gần hai tiếng đồng hồ mà Nguyễn Thanh Vân vẫn chưa khai thông được 100 thước tử địa. Không trách được hắn! Con đường hoang phế đã gần 10 năm. Mìn bẫy, hay có thể cả hầm chông đầy dẫy mà Lính thì chỉ có giày saut và lưỡi lê mà thôi! Phải tiết kiệm nhân mạng tối đa!

14H00.

Rồi cũng bắt tay với nhau sau hơn hai tiếng phá đường, mở lối! Nguyễn Thanh Vân và Trung Đội Phó Y Biếc dẫn toán lao công đào binh và một tiểu đội xuống tải thương và đem nước cho chúng tôi. Chỉ vài câu trao đổi là anh bạn gốc Long Xuyên vội vàng theo Thượng Sĩ Y Biếc trở lên đồi. Tôi thầm lo cho Minh. Cột xương sống lòi tủy. Bốn mảnh băng cá nhân không đủ đắp ngang lưng. Gần ba tiếng chịu đau đớn. Bao lâu nữa thì mới có trực thăng? Máy bay không hề chờ người. Chỉ có người sống, cũng như kẻ chết phải sẵn sàng để chờ chuồn chuồn đến bốc. Nhìn lại Trung Đội mới thấy chạnh lòng. Lính âm thầm chịu đựng và chấp nhận mọi hoàn cảnh. Chúng tôi chỉ còn lại 14 tay súng và đang hoang mang khi nhìn chung quanh toàn là bóng dáng của mìn bẩy và…thần chết!

Tiếng trực thăng kéo tôi ra khỏi trạng thái gần như lạc hồn. Cánh thiên thần đã đến đúng lúc. Nhưng ba tiếng đồng hồ chịu đựng đau đớn và mất máu, liệu ông Thái, Minh, Tài và cả một đứa em tân binh bị gãy chân còn đủ sức để lâm trận với tử thần trên bàn mổ hay không?! Tôi choàng tỉnh khỏi cơn chấn động tinh thần ngay sau khi Thanh ” máy ” cho biết Vương Vũ vừa nhắc tới việc lo cho con cái ấm chỗ để qua đêm, còn Hồ Viết Sành thì mang tới cho tôi một ca sắt trong đó là cơm nóng và mít non luộc cùng với một lát thịt hộp. Thấy tôi nhìn trân trân mấy miếng mít, thằng em cười ruồi chỉ tay bâng quơ qua hướng sân kế bên nói ngay:

– Chuẩn úy đừng lo! Không có mìn đâu. Tụi em coi kỹ lắm rồi mới ‘’ vớt ‘’ nó xuống. Còn có canh dưa hường nữa. Em sẽ mang lại ngay.

Không thấy đói, nhưng cũng phải ráng ăn cho có sức và cũng để không phụ lòng của thằng em ô đô. Vừa nhai, tôi vừa miên man nghĩ về trái đạn đã loại khỏi vòng chiến một phần ba quân số của Trung Đội. Lại thêm một sự may mắn vừa đến với tôi và với hai thằng em đứng kề bên. Bốn người đứng cạnh nhau trên khoảng sân trống trải. Chúng tôi vô sự. Chỉ có ông Thái bay một cánh tay. Đúng là đạn tránh người. Có lẽ là nhờ cả ba thầy trò chưa tới số, hay còn có nguyên do nào khác chăng?!

19H00

Trung đội đóng chốt ngay giữa những miếng đất đã dẫm nát từ ban sáng, sau một màn xăm xoi tất cả những nơi chưa có dấu chân hay có dấu hiệu khả nghi. Báo cáo đầu giờ cho Đại Đội. Một vòng kiểm tra tuyến đóng quân, đặc biệt là chốt phòng thủ hướng về phía khu làng chưa kịp tảo thanh. Nhìn địa thế mà tôi thầm ngao ngán mặt dù phía sau có Trung Đội 2, hướng trên đồi có Trung Đội 3, bên sườn phía đông có một Trung Đội của Đại Đội 4. Mỗi gốc cây là một dấu hỏi, mỗi hàng dậu hay rào thưa là một gương mặt của tử thần. Không biết ngày mai lệnh lạc sẽ ra sao, chứ nếu như kiểu này thì chắc chắn ngay cả Vương Vũ chắc cũng phải buột miệng chưởi thề không chừng. Lót ổ xong là mọi người mệt nhoài nên không có những cợt đùa cố hữu. Lính trầm ngâm hơn thường ngày. Chắc chắn ai cũng đang nhớ lại thảm cảnh của những ngày qua và nhứt là những đồng đội kém may mắn. Hôm nay là họ, ngày mai sẽ đến lượt ai?! Có đúng ’’ … Đi lính có nghĩa là chờ tới phiên mình bị thương hay tới số… ’’ như lời ai đó đã nói hay không? Mà thôi! Suy nghĩ vẫn vơ hoài chỉ đày đọa thêm bản thân. Kệ mẹ nó! Tới đâu thì tới. Lính mà em!

Thứ Năm 01-05-1974. 07H00

Đêm yên lành trôi, dù rất chậm. Cũng may là không bị đám chuột nhắt khuấy phá, dù chỉ bằng tiếng loa phát thanh như cả tháng qua. Đêm thao thức để thấy lòng bùi ngùi khi thả tâm trí ngược về những ngày Lễ Lao Động của thời còn hít thở bụi phấn trong lớp học và những chuyến rong chơi với bạn bè ngoài Vũng Tàu. Thế giới hồn nhiên của ngày xưa đã không còn, thay vào đó là trò chơi súng đạn để tự vệ và sinh tồn. Cứ thế mà vẩn vơ cho đến sáng tỏ. Mọi người đã thức dậy. Vài ngụm cà phê và điếu thuốc Mélia làm đầu óc cảm thấy dễ chịu hơn. Lại một ngày mới đang bắt đầu. Ước gì ngày nào cũng như sáng hôm nay: trời trong, nắng hồng để còn thấy chút hạnh phúc dù rất mong manh vẫn còn hiện diện trong lòng.

9H00

– Chuẩn úy! Vương Vũ muốn gặp trên máy.

Thanh ‘’ máy ‘’ vừa nói vừa đưa tôi ống liên hợp. Bên kia đầu máy, tiếng của Đại úy Vương như muốn nghẹn lại khi thông báo là có lệnh gom dân trao cho chúng tôi để tiếp tục việc phát quang. Lệnh này do Liên Đoàn ban ra nên dù không tán thành, Vương Vũ vẫn phải tuân hành. Trung Đội 1 nằm tại chỗ chờ nhận người. Cùng lúc đó thì Trung Đội 3 cũng sẽ từ trên đồi mở rộng con đường mòn tải thương hôm qua và khai quang sườn dốc phía tây để sau đó bắt tay với chúng tôi ở cuối làng. Còn Trung Đội 2 thì qua những làng lân cận để gom người và ‘’ mượn ‘’ luôn dao, rựa của dân xài thay vì chỉ có lưỡi lê và xẻng cá nhân vốn bị hạn chế trong việc phát quang. Trong khi chờ đợi nhận người, chúng tôi thận trọng dò dẫm từng thước đất và chú tâm tuyệt đối vào từng bụi cây hay rào dậu quanh tuyến đóng quân. Để chắc ăn, tôi cho Hạ Sĩ Trần Văn Qúy dùng M79 tác xạ vào những nơi nghi ngờ có mìn bẩy. Anh chàng nổi tiếng thiện xạ và vua gài lựu đạn này ngứa ngáy đã lâu, nay được dịp trổ tài nên tha hồ nhả đạn tưng bừng. Và quả nhiên, một số mìn trúng đạn nổ tung như muốn thót tim, làm Thanh ‘’ máy ‘’ cứ phải luôn miệng báo cáo về Đại Đội để ‘’ Bố Gìa ‘’ yên tâm.

11H30

Đang ngồi nghỉ mệt thì Lê Văn Hữu dẫn tám người đến giao cho chúng tôi. Nhìn họ mà tôi than khổ trong lòng vì ngoại trừ một thiếu niên mặc bộ đồng phục của một trường Trung Học nổi tiếng của Quảng Ngãi, còn lại toàn là đàn bà, con gái. Dụng cụ ‘’ mượn ‘’ về chỉ có một cái rựa, hai cái cuốc và một con dao phay.

– Có còn hơn không. Xài đỡ đi Huynh Trưởng. Nhân lực và vật lực chỉ có bấy nhiêu thôi. Chắc là Lễ Lao Động nên họ cũng xả hơi chăng!?

Hữu nói đùa rồi dẫn lính trở lại tuyến của mình. Còn tôi đứng đó, phân vân không biết phải làm sao. Cuối cùng, tôi báo cáo với Đại úy Vương rồi quyết định cho một người có vẻ lớn tuổi ra về và dặn bà ta báo với gia đình những người còn ở lại là chúng tôi bảo đảm bảy người này sẽ được đối đãi tử tế. Vài người lên tiếng phản đối, liền miệng đòi tôi phải thả hết. Tôi chỉ im lặng nghe họ nói. Nhìn những ánh mắt âu lo nhưng bất mãn của họ mà tôi cảm thấy buồn bực. Không có bằng cớ đích xác họ là du kích hay giao liên vì theo lời Hữu thì họ bị gom lúc đang ở ngoài ruộng, còn hai cô gái trẻ và em học sinh thì nói là nhân ngày lễ, nên về thăm gia đình. Sau cùng tôi cũng phải đi đến quyết định là giao họ cho Trung Sĩ Đặng Tri và Nguyễn Văn Bi để tùy nghi xử dụng. Dù sao thì họ cũng đã ở đây rồi.

Nhưng hai chàng Trung Sĩ chưa kịp dẫn toán người đi thì có tiếng mìn nổ lớn trên sườn đồi. Đám dân ngồi thụp xuống đất, mắt láo liên, vẻ mặt hớt hãi. Mọi người đều hướng mắt về phía có tiếng nổ. Tôi đưa mắt nhìn Thanh ‘’máy’’. Thằng em hiệu thính viên đang nghe báo cáo điều gì đó. Một lúc sau, nó đến bên tôi nói gọn lỏn.

– Thượng Sĩ Y Biếc! 109 rồi!

Tôi khẽ gật đầu, hối Đặng Tri và Nguyễn Văn Bi dẫn người về vị trí đã phân công, rồi ngồi thừ người nghĩ ngợi về người Hạ Sĩ Quan gốc Thượng vừa hy sinh. Vậy là ’’ tứ hùng ‘’ của Đại Đội 3 giờ chỉ còn lại một mình Lê Văn Trữ đang làm Thường Vụ Đại Đội. Những chiến sĩ xuất sắc từ thời Lam Sơn 719 rồi Sa Huỳnh đã lần lượt giã từ vũ khí. Trong hai ngày, hai Trung Đội Phó giã từ cuộc chơi một cách oan uổng. Trên kia chắc là Vương Vũ đau lòng lắm, và Nguyễn Thanh Vân cũng buồn không kém vì mất một người thầy dạn dày kinh nghiệm. ĐM! Tôi bất giác văng tục trong lòng. Tình trạng này sẽ còn kéo dài bao lâu nữa !? Thật là chán chường gì đâu!

Nhưng đúng là họa vô đơn chí! Vừa nuốt vội chút cơm và chưa hết bồi hồi vì cái chết của Thượng Sĩ Y biếc thì một tiếng nổ khác từ tổ khinh binh của Đặng Tri vọng lại làm tôi thót tim vì có tiếng lao xao nhốn nháo vọng lại: một dấu hiệu chẳng lành. Chạy đến nơi thì đã thấy Bùi Hữu Tùng, đứa em gốc Vũng Tàu nằm bất động, còn Đặng Tri thì mặt mày hầm hầm xỉa xói vào mấy người đàn bà đang ngồi gầm đầu xuống đất, rồi đến bên tôi báo cáo.

– Mấy con mẹ này chắc chắn biết có mìn mà không chịu chỉ. Cứ xớ rớt khều khều nên thằng Bình tức tối chụp rựa phang. Chỉ mấy nhát là nó dính chấu. ĐM! Đám này là dân của tụi nó đó chuẩn úy!

Tôi cũng muốn nổi khùng nhưng chỉ biết than thầm trong lòng và không biết phải hành động ra sao. Giận dữ cũng phải nén, đau lòng cũng phải dấu nhẹm. Hết nhìn bờ dậu tới nhìn xác thằng em. Chúng đặt mìn dưới đất thì còn có thể rà tìm, gài lựu đạn trên bờ rào thì vô phương. Nhưng lời của Trung Sĩ Đặng Tri cũng không phải là vô căn cứ. Chúng nó phải làm dấu cho dân biết để tránh. Nếu không tại sao chỉ một mình thằng Tùng toát ngực !? Nhưng làm sao tìm ra!? Cũng đừng hòng đám dân này chỉ điểm. Những người đàn bà vẫn ngồi nhìn xuống đất mặc cho Đặng Tri hằm hè bước tới bước lui lầm bầm những câu chưởi rũa. Tôi cho lệnh tạm dừng việc phát quang để mọi người lắng cơn xúc động rồi kéo Đặng Tri qua phía Trung Sĩ Bi để bàn thảo riêng kế hoạch đối xử với đám dân, đồng thời cũng để kềm Đặng Trị khỏi nỏi khùng bất tử.

17H00

Đến giờ này mới có trực thăng. Không biết trên kia Đại úy Vương nghĩ gì vê người Thượng Sĩ ít nói mà chân chất đã từng vào sinh ra tử với ông bao năm qua bây giờ đã vào thiên cổ, riêng phần tôi cũng quặn lòng vì bảy người mới nhận về hồi Tết giờ chỉ còn lại Trần Minh Sơn, một tấm lòng rất…SàiGòn ! Nhìn đám dân đang ngồi lết bết, chờ được thả cho về mà thấy ngao ngán cho tình cảnh của của chúng tôi. Giữ họ để phát quang thay Lính thì thật là tàn nhẫn nếu như họ là người dân vô tội. Dù sao họ cũng không phải là người cầm súng trực tiếp đối đầu. Tha cả bọn họ thì tôi không có đủ thẩm quyền. ĐM! Tôi lại chưởi thề trong lòng. Bố Vương nói đúng. Thà đụng chánh quy chứ còn rà mìn hay truy lùng du kích thì chỉ ‘’ từ chết tới bị thương ’’ thật là nhức óc!

Nhức óc cũng phải cắn răng mà chịu, vì lệnh của ‘’Bố‘’ phán xuống cho tôi là phải giữ dân lại qua đêm. Ngày mai tính tiếp. Lại một phen gom gạo, nhường poncho, đào thêm hố. Lại một màn hăm he lính mẻ răng vì ngại họ quấy nhiễu một cách xàm xỡ những người đàn bà, nhứt là hai cô gái trông khá mặn mòi vốn là nam châm thu hút ánh mắt hao háo và những bông lơn, cợt đùa, chọc ghẹo của lính từ sáng đến giờ. Câu nói ‘’ Quân và Dân như Cá với Nước ‘’ nghe thật khôi hài làm sao! Dân nào thì không biết chứ những người đang chuẩn bị qua đêm ngay trong tuyến chúng tôi thì khác. Nếu được thì có lẽ họ sẽ ‘’xơi tái ‘‘ chúng tôi là cái chắc. Và điều này là lẽ tất nhiên. Có một điều khó hiểu: bắt dân vào bãi mìn để khai quang thì sao gọi là ‘’bình định, an dân ‘’ cho được!? Chẳng lẽ cấp trên của chúng tôi không biết hay sao?! Thật đúng là nhức đầu!

Thứ bảy 03-05-1974. 8H00

Hai ngày sinh hoạt chung với nhau mà trong lòng như nước với lửa. Hai ngày mệt óc vì những lời mắng vốn và thưa gởi của mấy người đàn bà và cả hai cô gái về chuyện lính tráng đã có nhiều hành động và lời nói không đẹp với họ. Hai ngày trần thân vì vừa trấn an dân, vừa vuốt ve tinh thần của Lính làm tôi mệt nhoài tâm trí. Việc phát quang chỉ làm cho có lệ nên không ai bị gì. Tình hình an ninh cũng lắng dịu. Có lẽ là nhờ chúng tôi đang có con tin trong tay. Yên tĩnh hoàn toàn. Và niềm vui chợt đến khi vừa nhâm nhi xong chút cà phê sáng là Thanh ‘’ máy ‘’ báo tin Vương Vũ cho lệnh thả người và ngưng công việc phát quang để chuẩn bị bàn giao vị trí cho một đơn vị bạn.

Thời gian sẽ cho biết sau.

Lính khoan khoái ra mặt khi nghe tin đổi quân. Một tháng chơi trò hú tim trong vùng tử địa đã quá đủ nếu không muốn nói là quá dài. Lệnh đổi quân đến thật đúng lúc! Chúng tôi cần thay đổi không khí vì đã quá căng thẳng trong suốt thời gian một tháng vừa qua. Nhìn quanh tuyến đóng quân để thấy thương đám em út và thương cả chính mình khi mạng sống chỉ biết phó mặc cho may rủi. Sống, chết là chuyện thường tình. Nhưng chết vì mìn thì thật là lãng xẹt! Không biết thượng cấp có hiểu cho tâm trạng của chúng tôi hay không?! Mà thôi! Đằng nào cũng đã chấm dứt trò chơi đẫm máu này. Đức Lương sẽ trở thành kỷ niệm. Một kỷ niệm hi hữu với hình ảnh của những chiếc giày Saut thận trọng thả ‘’ từng bước chân âm thầm ‘’ trong tử địa.

HUY VĂN

( Trích Nhật K‎y’ Hành Quân )

Advertisements