Chiến Tích Nhị Thức của T.Hiếu

Những Chiến Tích Điển Hình Ứng Dụng Nhị Thức của Tướng Hiếu

Hầu như mỗi khi xuất trận Tướng Hiếu đều xử dụng Nhị Thức Bộ Binh Thiết Giáp. Điển hình là các trận đánh sau đây đã được đề cập tới trong các đoạn khác của trang nhà này:
Trận Đánh Pleime

Không phải chỉ khi nhảy ngang ra tác chiến Tướng Hiếu mới xử dụng tới chiến xa/thiết vận xa. Chính khi còn là Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2, dưới trướng Chuẩn Tướng Vĩnh Lộc, Đại Tá Hiếu đã đóng vai trò chủ yếu trong việc thiết kế và điều động một thiết đoàn tiếp cứu trại Lực Lượng Đặc Biệt Pleime tháng 10 năm 1965.

Trại LLĐB Pleime là một tiền đồn hẻo lánh cách biên giới Cam Bốt khoảng 40 cây số, cách Quốc Lộ 14, 20 cây số về phía Tây và cách Pleiku khoảng 40 cây số về hướng Đông Nam. Trại này do một lực lượng đặc biệt hỗn hợp Mỹ-Việt-Thượng trấn giữ : toán Operations Detachment A-217 LLĐB Mỹ gồm 12 chiến sĩ, các toán LLĐB Việt tổng cộng gồm 14 chiến sĩ, và đơn vị LLĐB Tiếp Cứu Thượng gồm 415 chiến sĩ thuộc các sắc tộc Jarai, Rhađê và Bahnar.

Trước tháng 10 năm 1965, tiền đồn này không đóng một vai trò quan trọng mấy và hầu như hoạt động cách biệt lập theo mô thức riêng của các đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt. Tuy nhiên nó bỗng dưng trở nên hết sức quan trọng khi các cơ quan tình báo phối hợp các nguồn tin phát giác được kế hoạch chiến dịch Đông-Xuân của Tướng Võ Nguyên Giáp. Mục tiêu của chiến dịch Đông-Xuân là cắt đôi Miền Nam và gồm 3 giai đoạn: 1. tấn chiếm trại Pleime; 2. tấn chiếm Pleiku; 3. tấn chiếm Qui Nhơn. Tướng Võ Nguyên Giáp định dùng tới 3 Sư Đoàn Bắc Việt để thực hiện ý đồ này. Tướng Bắc Việt Chu Huy Mân được giao trọng trách dùng một Sư Đoàn gồm ba Trung Đoàn 32, 33 và 66 thực hiện giai đoạn 1, tấn chiếm trại LLĐB Pleime.

Kế hoạch Chiến dịch Tây Nguyên của Tướng Chu Huy Mân như sau: 1. Trung Đoàn 33 BV vây hãm tiền đồn Pleime để nhử Quân Đoàn 2 đem viện binh từ Pleiku kéo xuống; 2. Trung Đoàn 32 BV nằm phục kích đón chờ quân viện binh (một con mồi ngon khi không được yểm trợ bởi hỏa lực của các căn cứ pháo binh đặt gần bên); 3. sau khi triệt hạ viện binh, Trung Đoàn 32 BV trở đầu tiếp sức Trung Đoàn 33 BV thanh toán trại Pleime; 4. đồng thời một khi tuyến phòng thủ của tỉnh Pleiku bị suy yếu vì phải đưa quân tiếp cứu trại Pleime, Trung Đoàn 66 BV sẽ khởi sự tấn kích cầm chừng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2, chờ cho Trung Đoàn 32 và 33 BV thanh toán xong trại Pleime lên tiếp sức tấn chiếm tỉnh Pleiku, hoàn tất giai đoạn 2 của chiến dịch Đông-Xuân.

Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 biết một mình Quân Đoàn sẽ không chống cự nổi ý đồ to tát như vậy của Cộng Quân: 1. nếu tiếp cứu trại Pleime thì sa vào bẫy Việt Cộng (viện binh chết, trại Pleime thất thủ, Pleiku nguy khốn); 2. bỏ mặc trại Pleime thì hậu quả rất tai hại về đòn tâm lý và rồi Pleiku cũng sẽ bị nguy khốn. Thật là tiến thối lưỡng nan. Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn cầu cứu Quân Lực Hoa Kỳ. Tướng Westmoreland liền sai Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ hợp tác với Quân Đoàn 2 để bẻ gãy chiến dịch Đông Xuân của Tướng Võ Nguyên Giáp. Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Không Kỵ 1 Hoa Kỳ Harry Kinnard liền đặt bản doanh tại An Khê, cách Pleiku khoảng 10 cây số về phiá Đông.

Để hóa giải chiêu độc địa của Tướng Chu Huy Mân, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 bàn định kế hoạch với Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Mỹ như sau: 1. Quân Đoàn 2 sẽ gửi một Chiến Đoàn từ Pleiku xuống tiếp cứu trại Pleime từ mạn Bắc; 2. đồng thời sẽ phái một đơn vị Biệt Kích hỗn hợp Mỹ Việt tới trại Pleime trước để tiếp sức với quân đồn trú bảo vệ trại đến khi chủ lực tiếp viện quân tới; 3. Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Mỹ sẽ gửi một Lữ Đoàn thay thế số quân đi tiếp ứng bảo vệ tỉnh Pleiku; 4. đồng thời Sư Đoàn 1 Không Kỵ sẽ trực thăng vận nhiều pháo đội rải rác tại các vị trí gần trận địa để yểm trợ cho Chiến Đoàn tiếp cứu khi hữu sự.

Diễn tiến của trận đánh giải tỏa trại Pleime xảy ra như sau:

Sáng ngày 19/10/1965, một toán tuần tiễu gồm 85 chiến sĩ Thượng cầm đầu bởi 2 chiến sĩ Mỹ phát xuất từ trại đi tảo thanh vùng Tây Bắc trại. Trại được bảo vệ bởi 5 toán phục kích với 8 chiến sĩ mỗi toán và bởi 2 tiền đồn với 25 chiến sĩ mỗi tiền đồn.

Tối ngày 19/10, một toán tiền thám Cộng quân lọt qua một vị trí phục kích bắt đầu nổ súng vào tiền đồn phía nam của trại và thanh toán tiền đồn này sau 20 phút giao tranh.

Nửa đêm ngày 19/10, Cộng quân bắt đầu tấn công vào trại với các đội toán xung kích và các đoạn ống chứa chất nổ. Lính trại phản công lại với súng đại liên. Cả hai bên đều dùng đến lựu đạn để tiêu diệt nhau.

Lúc 3 giờ 45 sáng ngày 20/10, phi cơ phản lực dội bom lửa napalm khắp cùng ven trại.

Lúc 6 giờ sáng ngày 20/10, Cộng quân tấn công mạn Bắc của trại. Các chiến sĩ Thượng đã phải xông ra khỏi hầm trú để cận chiến với địch quân mới đẩy lui được chúng.

Lúc 7 giờ 30 sáng, một phi đội trực thăng tải thương có trực thăng tác chiến tháp tùng đáp xuống trại để thả xuống một bác sĩ giải phẫu và chở lính bị thương đi. Thình lình một trực thăng đang bay lượn bị súng phòng không hạ rớt xuống rừng. Một toán LLĐB nhào ra tiếp cứu thì bị một ổ đại liên địch quân bắn chận phải dội lại trại với một trung sĩ Mỹ bị tử thương. Trái lại, toán tuần tiễu xuất phát trại từ ngày hôm trước được lệnh rút về trại lại bước qua cổng trại được cách êm thấm.

Trưa ngày 20/10, Thiếu Tá LLĐB Charlie A. Beckwith, trưởng toán Project DELTA, được 2 Đại Đội thuộc Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù QLVNCH tăng phái, được lệnh tập họp tại phi trường Pleiku để lên đường tiếp cứu trại Pleime. Đội Toán này tập họp đông đủ tại phi trường vào lúc 5 giờ chiều cùng ngày.

Đúng 5 giờ 20 chiều, một Chiến Đoàn, một lực lượng 1200 chiến binh chỉ huy bởi Trung Tá Nguyễn Trọng Luật, gồm Trung Đoàn 3 Thiết Kỵ với 6 chiến xa M41 và thiết vận xa M113, cùng thiết đoàn M8 chở lương thực, đạn dược và săng nhớt, 2 khẩu đại bác howitzers 105 ly, Tiểu Đội Công Binh, Tiểu Đoàn 1 Bộ Binh thuộc Trung Đoàn 42 và Tiểu Đoàn 21 và 22 Biệt Động Quân rời Pleiku từ từ theo Quốc Lộ 14 tiến xuống phiá Nam hướng về trại Pleime. Trong khi đó, Trung Tướng Stanley Larsen, Tư Lệnh Lực Lượng Dã Chiến 1, cho trực thăng vận một Tiểu Đoàn thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ lên bảo vệ Pleiku.

Vì khan hiếm trực thăng, nên toán của Thiếu Tá Beckwith, chỉ được trực thăng vận làm ba chuyến, mỗi chuyến gồm 3 trực thăng vào sáng ngày 21/10. Đội quân này được thả vào rừng cách 8 cây số phía Nam trại Pleime. Họ đi quanh co trong rừng rậm, đến giữa trưa thì chạm trán với một ổ đại bác không giựt Cộng quân. Họ chém vè trở lui sâu vào rừng. Đến 5 giờ chiều thì họ chỉ còn cách trại có 35 phút. Họ dừng chân đóng quân ven trại Pleime chờ đến sáng sẽ tiến vào trại.

Lúc 1 giờ 40 sáng ngày 22/10, một phi cơ Skyraider A-1E bị bắn hạ khi bay trên trại Pleime. Phi công nhảy dù ra được nhưng rồi biệt tích hai ngày sau mới tìm được. Một phi cơ khác cũng bị bắn hạ, nhưng lần này phi công được cứu vớt ngay.

Sáng sớm ngày 22/10, sau một trận giao tranh ngắn ngủi, các đội toán của Thiếu Tá Beckwith tiến được vào trại Pleime và Thiếu Tá Beckwith trở nên Chỉ Huy Trưởng trại từ giờ phút đó.

Lúc 1 giờ trưa, một lực lượng gồm 3 Đại Đội xông ra khỏi trại để khai quang một ngọn đồi kế bên trại. Lực lượng này liền bị một ổ súng đại liên địch quân quật ngã, khiến cho Đại Úy LLĐB Thomas Pusser và 12 chiến sĩ Thượng bị hạ, và vô số bị thương. Lực lượng này đành phải rút lui về trại.

Cũng trong ngày 22/10, toán Biệt Cách Dù QLVNCH xông ra trại tìm cách triệt hạ hai ổ đại liên địch nhưng đều thất bại.

Ngày 23/10, lúc 2 giờ trưa, Tiểu Đoàn 22 Biệt Đông Quân được trực thăng vận xuống một bãi đáp 2 cây số rưỡi phía Nam vị trí ổ phục kích của Trung Đoàn 32 Bắc Việt, cùng với Chiến Đoàn tiếp viện từ phía Bắc đi xuống tạo thành thế gọng kìm.

Chiều ngày 23/10, khoảng 6 giờ chiều khi Chiến Đoàn tiếp viện tiến tới cây số 4 trên Hương Lộ 6C, cách trại Pleime 5 cây số, thì lọt vào ổ phục kích của Trung Đoàn 32 Bắc Việt, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Hữu An, Tư Lệnh Phó Mặt Trận B-3. Lúc đó Chiến Đoàn tiếp cứu chia ra làm hai cánh quân: cánh quân đầu gồm các chiến xa và thiết vận xa M113; cánh quân cuối gồm các thiết vận xa vận tải M-8 có hai Đại Đội Biệt Động Quân hộ tống, cánh quân này đi sau cách cánh quân đầu khoảng 2 cây số. Tiểu Đoàn 635 Bắc Việt tấn công cánh quân đầu và Tiểu Đoàn 344 Bắc Việt uy hiếp cánh quân cuối. Dưới sự yểm trợ của các phản lực cơ F-100 và các trực thăng võ trang nã hỏa tiễn, bom và đạn liên thanh vào các vị trí súng cối và đại bác không giựt của địch, các chiến xa M41 và thiết vận xa M113 của cánh quân đầu liền dàn hàng phản pháo dữ dội và mãnh liệt gây tổn thương nặng cho phục kích quân. Sau hai giờ giao tranh Tiểu Đoàn 635 Bắc Việt phải tháo lui vào rừng.

Cánh quân cuối với hỏa lực yếu kém hơn bị Tiểu Đoàn 344 Bắc Việt dùng đại bác không giựt, hỏa tiễn 90 ly và súng cối làm thịt. Cũng may là có các phản lực cơ F-100 đến tiếp cứu thả bom napalm vào các vị trí Cộng quân và bẻ gãy được lực lượng tấn công của Tiểu Đoàn 344 Bắc Việt và đẩy lui được chúng xuống về hướng Nam dọc theo hương lộ 6C.

Vào 3 giờ sáng ngày 24/10, Tiểu Đoàn 966 trừ bị của Trung Đoàn 32 Bắc Việt chia làm ba mũi dùi tấn công vào Chiến Đoàn tiếp viện. Nhưng rồi địch quân cũng bị phản pháo dữ dội gây tổn hại nặng nề và lại đành phải lủi vào rừng.

Đến khi mặt trời ló rạng vào sáng ngày 24/10, khi kiểm điểm tình hình thì cánh quân đầu không bị mất chiến xa hay thiết vận xa nào. Nhưng cánh quân cuối thì bị thiệt hại trầm trọng: 2 thiết vận xa M-8, 2 xe vận tải 5 tấn chở đạn dược, và 2 xe bồn xăng bị phá hủy; 1 thiết vận xa M-8, 2 xe vận tải 5 tấn, 1 xe ủi đất, 2 xe vận tải 3/4 tấn và hai khẩu đại bác 105 ly bị hư hại nặng nề.

Tối ngày 23/10, Trung Tướng Larsen đổ xong một Lữ Đoàn Không Kỵ xuống bảo vệ Pleiku.

Sáng sớm ngày 24/10, các trực thăng chở các khẩu đại bác đến hai vị trí tác xạ yểm trợ cho Chiến Đoàn tiếp viện.

Chiều ngày 24/10, sau khi được Pleiku tái tiếp tế, Chiến Đoàn tiếp cứu lại lọt vào ổ phục kích với hỏa lực vũ bão hơn trận phục kích ngày hôm trước. Lần này Chiến Đoàn bị khựng lại không tiến lên được. Một toán “đề lô” điều khiển pháo binh của Sư Đoàn Không Kỵ Mỹ được phái tới trợ giúp đoàn xe bị vây hãm. Toán này được trực thăng tải thương thả ngay xuống đầu đoàn chiến xa. Họ nhảy vào những chiến xa đầu cầu và từ trong xe điều chỉnh các xạ thủ đại bác bắn trải thảm phía trước mặt đoàn chiến xa. Và cứ như thế, nhờ làn mưa pháo tàn khốc đổ xuống phiá trước mặt, Chiến Đoàn từ từ tiến tới được và triệt hạ dần các ổ phục kích.

Sáng ngày 25/10, một toán cảm tử dẫn đầu bởi hai Trung Sĩ LLĐB Mỹ, dùng súng phun lửa xông ra trại triệt hạ được một ổ súng đại liên nhẹ của địch quân.

Đến chập tối ngày 25/10, Chiến Đoàn tiếp cứu tiến vào trại Pleime, chấm dứt sự vây hãm trại của địch quân.

Đến đây vai trò của Quân Đoàn 2 chấm dứt, nhưng vì Tướng Westmoreland muốn Sư Đoàn Kỵ Binh Mỹ truy lùng và diệt đám tàn quân của 2 Trung Đoàn 32 và 33 Bắc Việt đang tháo lui về biên giới Cam Bốt, nên Đại Tá Hiếu tiếp tục liên lạc mật thiết với Ban Tham Mưu của Sư Đoàn Không Kỵ 1 Mỹ và với cá nhân Tướng Kinnard, Tư Lệnh Sư Đoàn này với vai trò cố vấn vì tài ăn nói Anh ngữ lưu loát. Vào giữa tháng 11/1965 xảy ra trận đánh đẫm máu tại Thung Lũng Ia Drang. Sau đó, Quân Đoàn 2 kêu gọi đến Lữ Đoàn Dù do Trung Tá Ngô Quang Trưởng, với sự trợ lực của một cố vấn Mỹ mang tên Thiếu Tá Norman Schwarzkopf, chỉ huy nhảy xuống Đức Cơ chận đánh tàn quân Bắc Việt đang tìm đường rút về Cam Bốt.

Trong suốt thời gian giải vây trại Pleime, Đại Tá Hiếu thức trắng đêm ngồi trực trong hầm trại Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ tại Đức Cơ, xử dụng hệ thống viễn thông bén nhậy của đơn vị Mỹ này, một lực lượng được trang bị cách biệt đãi hơn các đơn vị khác, hơn là hệ thống viễn thông yếu kém của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2, để liên lạc trực tiếp bằng Anh ngữ với các Chỉ Huy Trưởng Mỹ can dự vào trận đánh này. Nhờ vậy mà cuộc hành quân phối hợp Việt Mỹ giữa các đơn vị thuộc trại LLĐB Pleime, toán DELTA và Biệt Cách Dù 91, Không Quân Hoa Kỳ và Không Quân Việt Nam, Chiến Đoàn Bộ Binh Thiết Giáp tiếp viện, Pháo Đội Yểm Trợ Chiến Đoàn tiếp cứu của Sư Đoàn Không Kỵ Mỹ, Lữ Đoàn Không Kỵ bảo vệ Pleiku, tiến hành một cách tốt đẹp.

Không mấy ai biết tới công lao này của Đại Tá Hiếu, dân chúng chỉ biết qua báo chí là sau trận này Chuẩn Tướng Vĩnh Lộc được tuyên xưng là Người Hùng Pleime và được thăng cấp Thiếu Tướng. Thiếu Tướng Vĩnh Lộc rất lấy làm hãnh diện với chiến công hiển hách này nên đã đặt tên cho bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và máy bay C-47 riêng của Tư Lệnh Quân Đoàn 2 là Pleime.

Trong 4 ngày Việt Cộng vây hãm trại Pleime, KLHK và KLVN thực hiện tổng cộng 300 phi vụ oanh tạc nã xuống đầu Trung Đoàn 33 BV quanh trại. Các máy bay vận tải C-123 của Không Quân và CV-2 Caribou của Lục Quân đã tiếp tế thả dù xuống trại 333 ngàn cân anh (trong số đó 9 ngàn cân anh lọt ra ngoài hàng rào giây kẽm gai) đạn dược, thuốc men, lương thực và nước uống.

Cộng quân thiệt hại rất nặng. Trung Đoàn 33 BV vây hãm trại chỉ sống sót được khoảng một đại đội. Trung Đoàn 32 BV phục kích Chiến Đoàn tiếp cứu bị chết 40 phần trăm chiến binh, trong đó 2 Tiểu Đoàn Trưởng chết và 1 bị thương, và bị mất 18 khẩu súng liên thanh chống phi cơ 12.7 ly cùng 11 súng cối.

Vì các chiến binh của Quân Đoàn 2 và của Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ bẻ gãy chiến dịch Đông Xuân ngay từ giai đoạn đầu nên Tướng Võ Nguyên Giáp buộc phải từ bỏ ý đồ cắt đôi Miền Nam năm 1965-1966, thành thử Cộng Quân phải nếm mùi Đông tang thương mà không được hưởng Xuân khải hoàn !
Nguyễn Văn Tín
Ngày 25 tháng 7 năm 1999.
Cập nhật ngày 08.09.1999
———————–
Hành Quân Đại Bàng 800

Nói qua về hành quân chung với lực lượng đồng minh, tôi còn nhớ cuộc hành quân Đại bàng 800 vào đầu năm 1967. Theo kế hoạch của Đại Tướng Westmoreland và Đại Tướng Cao Văn Viên, thì tất cả các đơn vị chính quy Việt Nam, Hoa kỳ và Đại Hàn đều phải thi hành chiến dịch “Tìm và Diệt” (Search and Destroy) trong năm 1967. Tỉnh Bình Định là một tỉnh lớn nhất, gồm 12 quận, một tỉnh đông dân nhất miền Nam (gần 1 triệu dân) và cũng là một tỉnh có nhiều Việt Cộng nhất. Trong thời gian 1945 đến 1954, Bình Định là thủ đô của Liên khu 5 Cộng sản (quân đội Pháp chưa lần nào đặt chân lên vùng này). Trong 9 năm dưới chế độ Cộng sản cai trị, nên có rất nhiều người vào Đảng và cũng có nhiều người tập kết ra Bắc, vì thế hầu như gia đình nào cũng có liên hệ đến Cộng sản.

Tại lãnh thổ này, Cộng sản có Sư đoàn 3 Sao vàng, sư đoàn nổi tiếng của Liên khu 5 Cộng sản, một Tỉnh ủy và một bộ chỉ huy Tỉnh đội gồm nhiều tiểu đoàn địa phương, còn du kích thì vô kể. Theo phóng đồ cuộc hành quân Đại Bàng 800, thì bốn quận phía Bắc: Tam Quan, Bồng Sơn, Phù Mỹ và Phù Cát là vùng đông dân nhất, được giao Sư đoàn 22BB Việt Nam tìm và diệt địch và bình định lãnh thổ. Khu vực phía Nam là: Qui Nhơn, Tuy Phước, Phú Phong và Văn Canh là vùng hành quân của Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn, và bốn quận phía Tây là: An Khê, Vĩnh Thạnh, An Lão và Hoài Ân, vùng núi non hiểm trở là vùng hành quân của Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa kỳ, vì sư đoàn này có nhiều phương tiện trực thăng và hỏa lực Không Quân đối đầu kế hoạch mà ba bộ tham mưu Việt Nam, Hoa kỳ và Đại Hàn đã hoạch định. Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa kỳ hành quân trong vùng trách nhiệm trước 3 ngày, sau đó mới đến Sư đoàn 22BB và Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn vào vùng hành quân.

Trong 3 ngày đầu, với phương tiện trực thăng dồi dào, Sư đoàn 1 Không kỵ Hoa kỳ đã đổ quân xuống các vùng an toàn nhất của Cộng sản tại Hoài Ân và quận Vĩnh Thạnh, phá và đốt nhiều kho lúa dự trữ của Cộng sản, khu hậu cần kiên cố của Liên khu 5 và Sư đoàn 3 Sao vàng. Binh lính Hoa kỳ rất xông xáo cố tìm cho ra kẻ địch để diệt, nhưng Cộng sản rất khôn ngoan đã tránh né tất cả các cuộc đụng độ với Hoa kỳ vì biết lực lượng Không kỵ Hoa kỳ rất mạnh.

Vào lúc 11 giờ đêm ngày N+3, Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư đoàn Không kỵ Hoa kỳ đáp xuống bộ tư lệnh Sư đoàn 22BB, ông vào gặp Thiếu Tướng Hiếu và thảo luận. Ông yêu cầu Thiếu Tướng Hiếu hủy bỏ cuộc tấn công vào phía Tây quận Phù Mỹ và phối hợp với Sư đoàn 1 Không kỵ tấn công vào An Lão mà ông tin tưởng là Sư đoàn 3 Sao vàng Cộng sản đang trú quân tại đó. Thiếu Tướng Hiếu cho gọi tôi để xác nhận tin tức. Tôi trình bày với Tướng Hiếu và Tướng Tư Lệnh Sư đoàn 1 Không kỵ Hoa kỳ là tôi đã gặp được một du kích VC sống ở vùng đồi núi phía Tây quận Phù Mỹ. Tôi đã tốn rất nhiều tiền bạc để nuôi gia đình tên du kích này. Cách đây vài ngày, tên du kích đã báo cho tôi biết có nhiều đơn vị của Sư đoàn 3 Sao vàng trú quân tại ranh giới giữa quận Phù Mỹ và Hoài Ân. Đối chiếu với các tin tức trước đây tên du kích báo, tôi thấy có thể tin được. Tôi trình bày với Thiếu Tướng Hiếu và Tướng Hoa kỳ là một vài trung đoàn của Sư đoàn 3 Sao vàng đang ém quân tại vùng hành quân nói trên.

Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ nói: “Hôm nay tôi đã cho một đại đội Ranger trực thăng vận vào khu vực đó để tìm địch mà diệt, nhưng không thấy đụng độ. Tôi biết làm như vậy là sai, vì đó là vùng hành quân của Sư đoàn 22BB, nhưng vì nóng lòng tiêu diệt địch mà phải làm như thế.” Ông hỏi tôi: “Thiếu Tá (khi đó tôi là Thiếu Tá Trưởng Phòng 2 Sư Đoàn 22) tin chắc có địch trong mục tiêu hành quân đó không?” Tôi trả lời: “Thưa Thiếu Tướng, Cộng sản rất tránh né đụng độ với quân đội Hoa kỳ vì chúng sợ hỏa lực của các ông. Tôi tin Sư đoàn 22BB sẽ đụng độ Sư đoàn 3 Sao vàng tại mục tiêu này.” Thiếu Tướng Hiếu nhã nhặn nói với Tướng Hoa kỳ: “Theo kế hoạch đã thảo luận giữa ba sư đoàn Việt Nam, Hoa Kỳ, Đại Hàn, Sư đoàn chúng tôi sẽ vào vùng hành quân ngày mai, không nên thay đổi kế hoạch quá sớm.”

Dựa theo tin tức của Phòng 2, Thiếu Tướng Hiếu chỉ thị cho Trung Tá Bùi Trạch Dzần, Trung Đoàn Trưởng của Trung Đoàn 41 chỉ xử dụng 2 tiểu đoàn bộ binh và Bộ Chỉ huy Trung Đoàn vào vùng hành quân thật sớm và khi vào gần đến mục tiêu vào lúc 3 giờ chiều thì phải đóng quân, cho binh sĩ dùng cơm và đào công sự phòng thủ thật vững chắc. Vùng này là vùng xôi đậu nên có rất nhiều cơ sở nằm vùng của Việt cộng, biết thế nào các cơ sở này cũng sẽ mật báo cho Cộng sản đem quân về đánh khi chúng biết rõ quân số của ta nên Thiếu Tướng Hiếu đã vạch kế hoạch là Sư đoàn 3 Sao vàng thấy rõ lực lượng hành quân của ta để chúng đem quân ra đánh, ông sẽ phản công địch bằng lực lượng thiết vận xa. Một tiểu đoàn trừ bị và một chi đoàn thiết vận xa được lệnh Tướng Hiếu ém quân thật kỹ, xa vùng hành quân độ 10 cây số để địch không thấy.

Quả nhiên đến hai giờ sáng, Trung Tá Bùi Trạch Dzần báo cáo trên máy, một trung đoàn Cộng sản bắt đầu tấn công vị trí đóng quân của ông ta. Thiếu Tướng Hiếu ra lệnh chi đoàn thiết vận xa và tiểu đoàn trừ bị tiến thần tốc vào mục tiêu và bọc về phía sau lưng địch, bao vây, tiêu diệt không cho địch rút lui. Sư đoàn 1 Không kỵ Không Vận Hoa kỳ được tin ta đụng độ liền đem trực thăng thả trái sáng yểm trợ. Pháo binh của hai sư đoàn Việt Nam và Hoa kỳ tác xạ liên tục để yểm trợ quân bạn. Hỏa châu của Sư đoàn 1 Hoa kỳ thả quá nhiều nên ánh sáng tỏa ra thấy rõ hơn ban ngày. Kế hoạch đánh lén ban đêm của Cộng sản kể như bị phá vỡ. Ba mươi phút sau, Thiết vận xa và tiểu đoàn trừ bị đã đến kịp, bao vây bọc hậu các đơn vị Cộng sản nói trên và tấn công tiêu diệt chúng vô số kể. Đến 5 giờ sáng, Cộng sản phải ôm hận, phân tán và rút lui vào rừng, để lại trên 300 xác chết nằm rải rác khắp nơi, một số lớn vũ khí, đạn dược ngổn ngang trên chiến trường.

Thiếu Tướng Hiếu đáp xuống mặt trận để quan sát, 15 phút sau, Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Không Vận Hoa kỳ cũng đáp xuống vùng hành quân. Thấy quân đội ta chiến thắng Sư đoàn 3 Sao vàng một cách vinh quang, Thiếu Tướng Hoa kỳ tìm gặp tôi, vui vẻ bắt tay và khen nhiều lần về kế hoạch dụ địch của Sư đoàn 22BB và tin tức Phòng 2 là chính xác. Trong 15 năm phục vụ trong ngành tình báo chiến trường, có lẽ lần này là lần đầu tiên tôi sung sướng và hãnh diện nhất. Thiếu Tướng Hoa kỳ đã nói với Thiếu Tướng Hiếu, muốn thắng trận cần phải có tin tức chính xác.

Đại Tá Trịnh Tiếu
Sacramento, California tháng 5, 1995

Advertisements