H.Q.chiến trận Khóa.20

phu-hieu-gd22xp             huy-hieu-giang-doan-73-thuy-bo
Khóa 20 SQHQ đệ nhị Hổ Cáp: Những ngày hành quân chiến trận

Hồn tử sĩ gió ù ù thỗi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi,
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn,
Dấu binh lửa nước non như cũ
Kẻ hành nhân qua đó, chạnh lòng thương.
(Chinh phụ ngâm khúc – bà Đoàn Thị Điểm)

Huy hieu LLDNTB 211. TVQ Collection

1. Huỳnh Hữu Lành:
Thời gian thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ chấm dứt, chúng tôi trình diện Phòng Tổng Quản Trị/Bộ Tư Lệnh để nhận đơn vị. Tôi và quan Hà Mạnh Hùng được “tặng thưởng” về đơn vị đặc nhiệm Thuỷ Bộ. Tôi đã được tân đáo về Bộ Chỉ Huy/Liên Đoàn Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211.2, điều động hai giang đoàn 72 Thủy Bộ và 73 Thủy Bộ. Quan Hà Mạnh Hùng về làm sĩ quan giang đĩnh Giang Đoàn 72TB. Sau khi trình diện Bộ Tư Lệnh/Lực Lượng Thuỷ Bộ 211 tại căn cứ Đồng Tâm do HQ Đại Tá Nguyễn Văn Thông làm tư lệnh, và HQ Trung Tá Hoàng Cơ Minh làm tư lệnh phó. BCH/LĐĐN/TB-211.2 đang đảm trách vùng hành quân trên đất Miên, nên tôi đã theo chiến hạm xuống vùng hành quân để trình diện CHT/BCH “Chấm” là HQ Thiếu Tá Nguyễn Văn Tòng Khoá 11, và chỉ huy phó là HQ Đại Uý Đinh Văn Tráng khoá 13. – Sau này, HQ Thiếu tá Tráng đã được thuyên chuyển về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Phòng Tổng Thanh Tra, và đã bị tử nạn trên đường đi thanh tra, trên một chiếc trực thăng chuyển vận vì đã bị hoả tiễn SA7 của Cộng Sản bắn rớt.

HUY HIEU GIANG DOAN 72 THUY BO .HUY HIEU GIANG DOAN 73 THUY BO.
Bộ Chỉ Huy/Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211.2 đang đóng tại Neakluong, nằm giữa đường sông Mekong từ Tân Châu lên đến Nam Vang. Các chiến đĩnh của giang đoàn Thủy Bộ mới được Hoa Kỳ bàn giao lại, là những con cá trận mình bọc luới thép chống B40 & 41, lại thêm những bao cát và các thùng đạn chứa cát đặt quanh chiến đĩnh để chống đạn – nặng chình chịch và chắc nịch, chạy lừ đừ như những con cá sấu bơi trong kinh lạch, mang những tên sặc mùi Mỹ hoá như Alpha, Tango, và Charlie. Alpha (trợ chiến đĩnh-Assault Support Patrol Boat) là thành phần chiến đĩnh xung kích của các giang đoàn Thủy Bộ. Với vận tốc trung bình 6 gút, cùng hỏa lực của cây đại liên 50 ly trước mũi, và giàn phóng lựu MK-20 đã làm Cộng quân khiếp vía. Hai chân vịt, và hai giàn máy đã làm cho loại giang đĩnh này xoay trở dễ dàng. Những ống thoát khói được đặt dưới tầm mặt nuớc để giảm tiếng máy kêu, nên loại chiến đĩnh này rất được trọng dụng trong những công tác kích đêm. Chiều sâu của loại giang đĩnh này tương đối cạn, khoảng chỉ một thước nên chiến đĩnh có thể ủi thẳng vào bờ không khó khăn. Vỏ tàu bằng thép dầy, đáy hình chữ V để tránh ảnh hưởng công phá của mìn, và giàn thượng tầng kiến trúc lại đuợc kiến tạo đặc biệt với những thùng hai lớp đựng cát để chống B-40 và B-41. Alpha là loại chiến đĩnh, với một cấu trúc đặc biệt, đã được hải quân Hoa Kỳ đặt làm để dành cho cuộc chiến trong vùng sông rạch ở Việt Nam với cái tên

Monitor (tiền phong đĩnh) là loại chiến đĩnh đã được biến cải từ họa đồ của chiếc LCM-6 mà ra, nhưng nó lại là linh hồn của các cuộc hành quân thủy bộ. Hoả lực của nó thì thật là khủng khiếp – với một đại bác không giật 105 ly gắn phía trước, đại bác 20 ly hay đại liên 50 ly kép ở hai bên hông, và khẩu BKP 81 ly trực xạ ở sân sau – đã nhiều lần làm vui lòng các chiến sĩ TQLC hay bộ binh bạn khi đi hành quân hỗn hợp, hoặc yểm trợ những đồn bót đóng dọc bên sông lạch. Monitor một đôi khi còn được trang bị bằng một súng phóng hỏa với xăng đặc của bom napalm; ngọn lưả của nó có thể bắn xa đến cả hơn ba chục thước, đốt cháy những công sự cố thủ hay chốt đóng của địch quân. Soái đĩnh Charlie hay CCB (command Communication Boat) là loại chiến đĩnh được dùng để đặt bộ chỉ huy, cũng được biến cải từ họa đồ kiến trúc của chiếc LCM-6. Hoả lực không dữ dội, nhưng rộng rãi – có hình dáng như chiếc Alpha. Tango (quân vận đĩnh tác chiến) hay ATC’s (Armored Troop Carrier Refueler) là loại chiến đĩnh dùng để chở quân, cũng được biến cải từ hoạ đồ kiến trúc của loại LCM-6, có đáy bằng phía truớc mũi và cửa đổ bộ. Hoả lực của nó được trang bị với các giàn 50 ly nằm ở hai bên hông, phía truớc mũi, dùng để dọn bãi khi đổ quân. Nóc loại chiến đĩnh nầy, được biến cải thành một platform cho bãi đáp trực thăng.

Cac chien dinh LLDNTB.jpg
Cuộc hành quân qua Cambodia thật sự đã được khởi sự từ ngày 9 tháng 5 năm 1970 phối hợp giữa lực lượng TQLC, HQ Việt Nam và một số đơn vị Hoa Kỳ. Tuy nhiên những cố vấn và lực lượng Hoa Kỳ đã không tiến vượt qua khỏi thành phố NeakLuong do sự phản đối dữ dội của những người chống đối chiến tranh ở bên Mỹ. Đoạn đường từ Neak Luong trở đi đều do những lực lượng của Việt Nam đảm trách hành quân, tiếp tế, bảo vệ an ninh, và cứu trợ nạn nhân chiến tranh. Đây cũng là một cuộc thử thách đầu tiên với cuộc hành quân quy mô rộng lớn cho Hải Quân Việt Nam, trong thời gian Việt Nam Hoá cuộc chiến. Tuy không còn được sự yểm trợ hỏa lực của Không Quân Hoa Kỳ, nhưng lực lượng hành quân của Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ được giao phó rất đẹp.
Bộ Chỉ Huy 211.2 có nhiệm vụ điều động 2 giang đoàn 72 và 73 Thuỷ Bộ phối hợp vớí một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến tinh nhuệ gồm có các Tiểu-đoàn 3, 6, và 9 TQLC đóng quân tại Neakluong. Vừa đến đơn vị là tôi phải lên đường tham dự hành quân thuộc vùng Kompong Cham để càn quét những trung đoàn Cộng Sản đang dưỡng quân trong vùng, và phá vỡ những căn cứ hậu cần của địch trên vùng biên giới Miên Việt. Tiếp đến, là những cuộc hành quân Trần Hưng Đạo-18 với kế hoạch hộ tống đoàn tàu vận tải tiếp tế cho Nam Vang. Trung Tâm Hành Quân THĐ đặt tại căn cứ Tân Châu với Commander là “cao bồi” Luật. Hành Quân Trần Hưng Đạo-18 phối hợp giữa các Lực Lượng Tuần Thám, các giang pháo hạm LSSI, dương vận hạm LST, Lực Lượng Thủy Bộ và những toán quân xung kích tạo thành những đoàn tàu hộ tống tiếp tế Nam Vang. Trong một lần hành quân càn quét để giữ an ninh hai bên bờ sông Mekong, Bộ Chỉ Huy 211.2 cùng hai giang đoàn 72 và 73 Thủy Bộ chở theo một tiểu đoàn bộ binh Miên. Chúng tôi vừa đổ quân xong, dự trù cho dọn sạch bờ sông, và trấn giữ những nơi eo hẹp của dòng sông. Các chiến đĩnh được lệnh rải đều và quay đầu về hướng Neakluong, ngược dòng để yểm trợ hỏa lực khi cần, thì địch quân bất ngờ đã khai hoả trước. Chúng đã cố gây rối loạn hàng ngũ chúng ta, nên rình bắn vào đoạn giữa của đoàn chiến đĩnh. Tôi đang ngồi trên flatform của soái đĩnh Charlie trực máy truyền tin, thấy chiếc pháo đĩnh Monitor đi phía truớc đã liên tiếp trúng nhiều phát đạn của đại bác 75 ly không giật, phòng lái đã bị trúng đạn, khẩu pháo tháp đại bác 20 ly ở phiá sau cũng bị một phát đạn 75 ly làm sập giàn súng, và pháo thủ đã tử trận tại chỗ. Tần số của máy truyền tin lúc nầy quá náo động, bởi lệnh lạc chỉ huy của các chỉ huy trưởng giang đoàn. Đoàn chiến đĩnh đồng loạt nổ súng vào bờ sông; những họng súng khạc đạn kêu lên như tiếng bò rống. Chiếc Monitor tuy trúng đạn phòng lái, nhưng nhờ vách phòng thủ với bao cát và thùng cát nên không bị loại ra khỏi vòng chiến. Thủy thủ đoàn tiếp tục vận chuyển con tàu, và khẩu trọng pháo 105 ly sân truớc vẫn trực xạ từng phát một vào bờ, tạo nên những cụm khói đen hình cây nấm, bùng lên cùng tiếng đạn nổ ầm vang dữ dội. Các căn nhà dọc bờ sông trúng đạn bốc cháy. Sau đó BCH đã liên lạc được với không lực Mỹ xin yểm trợ, những chiếc phản lực cơ F4 đã gầm vang xé bầu trời, hàng loạt quả bom đã nổ tung vào những vùng địch ẩn núp. Những cuộc hành quân như thế cứ tuần tự luân chuyển; BCH đã có tân chỉ huy trưởng là HQ Trung tá Trần Văn Hãn, và đơn vị sẽ được chuyển vùng hoạt động về vùng U Minh.

Phu hieu GD22XP.
Tôi được thuyên chuyển về Giang Đoàn 22 Xung Phong ở Nhà Bè, Đặc Khu Rừng Sác. Tôi và bà xã rất mừng vì đã được thuyên chuyển về gần nhà, và cuộc đời lính tráng bớt hiểm nguy hơn. GĐ22XP trực thuộc BTL/HQ Vùng 3 Sông Ngòi đóng tại căn cứ HQ Long Bình. Chỉ huy trưởng GĐ22XP là HQ Thiếu tá Phan Ngọc Xuân, ngày 30-4-75 ông đã mang lon Trung tá, và làm chỉ huy trưởng HQ/Biệt Khu Thủ Đô tại trại Bạch Đằng II. Tôi đã gặp lại Trung Tá Xuân, trong trại tù Cộng sản sau này.

FOM tuan tieu tren song rach
Ngày trình diện tân đáo đơn vị, tôi vào căn cứ Giang Đoàn 22 Xung Phong tại Nhà Bè, lại gặp ngay quan 20 Nguyyễn Văn Xê – “ĐĐ” Xê đã trở về với biển cả – đang nắm chức vụ sĩ quan nội vụ của giang đoàn. Trong một lần văn nghệ, đơn vị có tổ chức buổi tiệc (̣party) và thuê vũ nữ nhảy xéc-xy (sexy), quan Nguyễn Văn Xê đã lấy xe díp đơn vị đi đón các quan chỉ huy chiến đĩnh đang ở ngoài vùng hoạt động để về tham dự. Chiếc xe bị hư bình điện nên mỗi lần xe bị tắt máy là lại phải hè nhau đẩy cho đến khi xe nổ máy mới được lên ngồi. Xe chạy từ Nhà Bè qua cầu Tân Thuân, cầu Hàng, cầu Chữ Y, vào tới Chợ Lớn bị chết máy không biết bao nhiêu lần, và phải đẩy xe, nhưng rất vui. Tôi về GĐ22XP lại cũng tiếp tục những cuộc hành quân phối hợp với những đơn vị địa phương quân, Tiểu Đoàn 359 ĐPQ. Đêm về đổ quân án ngữ, ban ngày chở quân nhu quân dụng đi tiếp tế cho các đồn bót, và có khi phải đi hộ tống sà-lan đạn. Mỗi khi phải hộ tống sà-lan đạn, chúng tôi chạy dọc theo sông Đồng Nai, vòng qua Cát Lái, lên đến Long Bình. Ghé Bộ Tư Lệnh/ HQ/Vùng III Sông Ngòi gặp quan Phan Ngọc Long tán dóc ít câu, hoặc về Cát Lái cặp bến, vào câu lạc bộ người nhái uống cà-phê với quan 20 Nguyễn Minh Cảnh. Ít lâu sau đơn vị chúng tôi có thêm được HQ Trung uý Phạm Công Hùng thuộc Khoá 21 tân đáo, lại thêm một tay nhậu và nhảy đầm càng vui. Tôi nắm chức vụ sĩ quan trưởng toán giang đĩnh. Giang đĩnh của giang đoàn xung phong gồm toàn những tàu chiến thời Pháp còn để lại, những tên cũ rích như: tiểu giáp đĩnh FOM, tuần giang đĩnh RPC, pháo đĩnh Monitor, trung vận đĩnh LCM-6, và tiểu vận đĩnh LCVP.
Thời gian phục vụ tại GĐ22XP, chúng tôi cũng hành quân liên miên nhưng không đụng lớn, có lần cũng gặp bọn Đoàn 10 đặc công thuỷ đánh mìn nhưng lại thoát hiểm – Sau khi tôi đã chuyển đơn vị về hạm đội thì quan 20 Nguyễn Văn Đệ về Giang Đoàn 22XP.
Vào năm 1974 có tham dự hành quân ở Rừng Sác, đơn vị đã chạm địch, và CHT/HQ Thiếu Tá Nguyễn Bê – đã bị thương cùng với quan 20 Nguyễn Văn Đệ, xin xem Đặc San 2006, bài viết của HC2 Nguyễn Văn Đệ. Thời gian phục vụ giang đoàn tác chiến đã quá lâu, đủ để cho tôi được thuyên chuyển về Hạm Đội. Tôi được lệnh thuyên chuyển về Bộ Tư Lệnh Hạm Đội, phục vụ trên tuần duyên hạm Kim Quy HQ 605 lần lượt với các hạm truởng HQ Đại uý Võ Văn Tám Khoá 15, HQ Thiếu tá Nguyễn Văn Anh Khoá 13 và sau cùng là HQ Thiếu tá Nguyễn Văn Toàn Khoá 17. Xuống chiến hạm lại gặp quan 20 Lâm Quốc Hùng đang làm sĩ quan ẩm thực; mỗi tháng chúng tôi lại góp hụi đi nhậu mỗi khi tàu cặp bến – Quan Lâm Quốc Hùng nay đã ra khơi, không về bến nữa. Khi bò được lên đến chức vụ sĩ quan đệ nhị, hay hạm phó thì có HQ Trung Uý Đỗ Cao Năm Khoá 21, và HQ Thiếu Uý Trần Thiện Khải Khoá 24 về tân đáo chiến hạm – HQ Thiếu Úy Trần Thiện Khải đã hy sinh bên Lào trong cuộc Đông Tiến với ĐĐ Hoàng Cơ Minh.

Huy hieu LLDN tuan tham 212.

2. Nguyễn Hữu Nam:
Cùng với quan Nguyễn Hùng (Hùng Đầu Bò) sau thời gian Thực Tập Đệ Thất Hạm Đội từ Clark Air Base ở Phillipine, chúng tôi trở về Sài gòn vào tháng 11 năm 1970; thế rồi tôi được thuyên chuyển về Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Tuần Thám 212 (BTL/LLTT).
Tân đáo đơn vị mới vào đầu tháng 12 năm 1970, Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Tuần Thám 212 (BTL/LLTT), tại Bình Thủy gần Cần Thơ. Quan Phạm Ngọc Bích (Bích mập) cũng được thuyên chuyển về BTL/LLTT như tôi. Quan Phạm Ngọc Bích về Giang Đoàn 64 Tuần Thám (GĐ64TT) đồn trú tại Tuyên Nhơn-Mộc Hóa thuộc tỉnh Kiến Phong cùng ráp gianh với tỉnh Long An (Bến Lức), còn tôi thì về Giang Đoàn 63 Tuần Thám (GĐ63TT) đồn trú tại Phước Xuyên trên Kinh Đồng Tiến thuộc vùng Đồng Tháp Mười gần các vùng Cao Lãnh, An Long và Tân Châu gần biên giới Kampuchia.

HUY HIEU GD63 TUAN THAM
Trong thời gian chờ đợi phương tiện để về đơn vị, chúng tôi tạm trú trong khu sĩ quan độc thân của cố vấn Mỹ trong Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Bình Thủy (CC/YTTV/ BT). Hôm nào chán ngán đồ ăn Mỹ thì ra Cần Thơ ăn bánh cóng ở bến Ninh Kiều, hoặc ăn mì ở Tuý Quang Lầu ở gần chợ Cần Thơ sau khi đã xem ciné tại rạp Casino, hay vào chợ Bình Thuỷ ăn cơm Việt Nam, và chiều tối thì ăn bún bò Huế tại Ngã Ba Bình Thuỷ; quán có treo bức ảnh nổi tiếng “Tiếc Thương” của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh. Tôi theo Niên trưởng 19 Đinh Như Nhiên và ba chiếc PBR ra đến vùng hành quân của giang đoàn vào lúc 3 giờ chiều ngày 12.12.1970. Giang Đoàn 63 Tuần Thám có nhiệm vụ chính giữ an ninh thủy lộ huyết mạch là con kinh Đồng Tiến. Kinh Đồng Tiến nối liền từ Sông Cửu Long vùng Hồng Ngự chạy qua Đồng Tháp Muời, và ra tận đến Sông Vàm Cỏ Đông thuộc vùng Tân An. Thông thường chúng tôi cũng tuần tiễu và hộ tống ghe thương hồ từ Phước Xuyên thuộc Tỉnh Kiến Tường ra đến tận Ấp Bắc, và Cầu Kinh Mười Hai thuộc Vùng Cai Lậy (quê hương của Cậu Bảnh Quần Đỏ). Đoạn từ Phước Xuyên về Sông Cửu Long thì không bị rừng cây to che khuất nên hay bị đánh mìn, còn đoạn đổ ngược lên sông Vàm Cỏ thì rừng cây rậm rạp nên dễ bị phục kích.

Giang đoàn tuần thám được trang bị các giang tốc đỉnh – PBR (river patrol boat), có vỏ làm bằng sợi thuỷ tinh (fiberglass) nên rất nhẹ và vận chuyển rất nhanh với hai động cơ loại chuyển nước thành lực đẩy (water jet propulsion) nên máy rất êm, rất tốt cho những cuộc kích đêm. Hỏa lực mạnh với giàn 50 ly kép trước mũi, hai đại liên 30 hay 50 ly đơn phía lái, cùng vũ khí cá nhân. Sau khi vào phòng ngủ sĩ quan, sắp xếp hành lý, tôi lên trình diện Chỉ Huy Trưởng (CHT) là HQ Đại úy Nguyễn Thìn (K12 Hải Quân) với quân phục xanh tím Hải Quân chứ không phải trình diện với đồ tiểu hay đại lễ như ở những đơn vị khác. Tôi chào CHT và sĩ quan hành quân là HQ Thiếu úy Trần Phước Vân (K19), vì là một đơn vị tác chiến nên thủ tục trình diện cũng rất là đơn giản, hơn nữa phòng làm việc của CHT ở ngay trong phòng hành quân. CHT cho biết mỗi đêm có 3 sĩ quan hướng dẫn ba toán giang đĩnh, mỗi toán gồm năm chiếc PBR, và một cố vấn Mỹ cho mỗi toán. Các điểm kích sẽ nằm dọc theo Kinh Đồng Tiến, và phối hợp yểm trợ cho các đơn vị Địa Phương Quân. Mỗi đêm đều có một trực thăng chiến đấu của Mỹ bay từ Bình Thủy đến và túc trực tại căn cứ. Theo sự phân phối của sĩ quan hành quân, tôi được ở lại căn cứ đêm hôm đó và ngày hôm sau sẽ bắt đầu đi kích trục phía Nam của căn cứ.
Giang Đoàn 63 Tuần Thám (GĐ63TT) là một giang đoàn tân lập, các chiến đĩnh PBR đã được bàn giao cho Hải Quân Viêt Nam từ Hải Quân Mỹ trong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh nên vẫn còn một số cố vấn Mỹ. Đêm đi kích đầu tiên, tôi họp với các thuyền trưởng PBR để thông suốt những điểm kích, và nếu cần để yểm trợ các đơn vị bạn ở trên bờ dọc theo con kinh Đồng Tiến. Tôi mặc bộ đồ bộ binh tác chiến áo dài tay để tránh muỗi, bôi thuốc ngừa muỗi, với áo giáp và nón sắt tôi xuống chiếc PBR thứ ba trong năm chiếc, và viên sĩ quan cố vấn Mỹ đi chung với tôi trên cùng một chiếc. Đêm đầu tiên trên kinh Đồng Tiến, tôi biết thế nào là muỗi Đồng Tháp; muỗi nhiều vô kể, nó bay từng đoàn dày đặc. Chiếc PBR phóng nhanh trên con kinh Đồng Tiến để lại những đường vệt bọt trắng xóa trên dòng nước kinh đen trong đêm tối; từng đàn muỗi đập vào mặt vào mũi tôi! Khi gần đến điểm kích, các PBR tắt máy, và từ từ thả trôi đến các vị trí đã được ấn định. Thuyền trưởng PBR báo cáo vị trí về phòng Hành Quân, và phân chia ca canh gác cho thủy thủ đoàn. Tôi thử sử dụng máy hồng ngoại tuyến để quan sát trên bờ xem tình hình chung quanh nơi kích đêm nay ra sao. Sau đó tôi ngồi nói chuyện nho nhỏ với viên cố vấn Mỹ trên hầm máy phía sau chiến đĩnh đến khuya, và chúng tôi trùm poncho ngủ ngồi cùng dựa lưng vào nhau. Đến 6 giờ sáng thì chúng tôi rời điểm kích để về lại căn cứ trong làn sương mù dày đặc của vùng Đồng Tháp Mười.


CHT/GĐ63TT là HQ Đại úy Nguyễn Thìn (K12), vào thời điểm của năm 1970, đồng thời ông cũng là một nhạc sĩ tài hoa Trường Sa, đã có những bản nhạc hay để đời như “Rồi Mai Tôi Đưa Em“, “Chiều Nay Không Có Em”… Ông kể lại với chúng tôi là ngày ông mới ra trường, và khi còn là một Thiếu úy, ông đã được phục vụ trên chiếc Tuần Duyên Hạm (PGM) Trường Sa HQ-611, nên đã lấy tên Trường Sa để làm tên tác giả cho các bản nhạc của ông. Sau này ông lên Thiếu tá, và làm Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Đặc Nhiệm Tuần Thám 212.3. Ông mới tái hôn vào năm 2007 sau 11 năm ôm nỗi sầu lẻ bóng từ khi người vợ yêu quý của ông qua đời sau một tai nạn thảm khốc ở Việt Nam. Bốn nguời con trưởng thành đã rất vui mừng với duyên mới của ông. Xin có lời chúc mừng, đến vị cựu Chỉ Huy Trưởng của tôi.
Xin chép vào đây hai bản nhạc nổi tiếng của nhạc sĩ Trường Sa:
RỒI MAI TÔI ĐƯA EM
(Nhạc và Lời: Trường Sa)
Rồi mai tôi đưa em xa kỷ niệm
Xin lời cuối không dối gian trong mắt em
Tình yêu cho thương đau nghe buồn thêm
Gác vắng mưa gợi niềm chăn chiếu
Còn đây không gian xưa quen gót lầy
Bên hè phố cây lá thưa chim đã bay
Ngồi nghe yêu thương đi xa tầm tay
Giữa tiếng ru trầm vào cơn mê này
Chiều xưa em qua đây ru hồn nắng ngủ say
Lời yêu trót đong đầy
Đón em thu mây bay, tiễn em xuân chưa phai
Xót ngày vàng còn gì
Đành đoạn rồi những lần chiều hẹn ước
Rồi mai chân hoang vu lên phố gầy
Tôi về nhớ trong mắt môi đã đắng cay
Còn ai mơ trên tay khi hoàng hôn
Vỗ giấc xuân muộn về trên môi hồng
Và một bài khó quên khác: CHIỀU MƯA KHÔNG CÓ EM
(Nhạc và Lời Trường Sa)
Chiều mưa không có em,
Bờ đá công viên âm thầm.
Chiều mưa không có em,
Giăng mắc mây không buồn trôi.
Gọi mùa thu lãng quên,
Vào tiếng mưa rơi êm đềm.
Trời còn mưa ướt thêm,
Cho dài ngày tháng không tên.
Chiều mưa không có em,
Ðường phố quên chưa lên đèn.
Chiều mưa không có em,
Biết lấy ai chia hờn tủi.
Trời mùa Thu lắm mây,
Còn bước em đi quên về.
Vòng tay ôm lẻ loi,
Cho mình còn mãi thương nhau.
Trầm lặng ngày đi qua trên đường phố rét mướt,
Dấu chân chưa tìm về, chút kỷ niệm ngày đầu.
Ðể từng mùa Thu đến, ra đi không mang tin
Nỡ quên đi đành sao?
Kể từ em vắng xa,
Ngày tháng bơ vơ tên mình.
Mùa thu mưa vẫn rơi,
Không bước chân em tìm đến.
Chuyện ngày xưa biết sao,
Mỏi cánh chim bay phương nào.
Còn ngày xuân ấm êm,
Cho mình gọi tiếng yêu em …..

Năm 1971 GĐ63TT đảm nhận thêm nhiệm vụ hộ tống tàu buôn đi lên Nam Vang, trong cuộc hành quân Trần Hưng Đạo. Sau cuộc hành quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đánh qua Cambodge, chúng tôi đã hộ tống Dương Vận Hạm HQ-504 từ Tân Châu lên tới Neak- Luong. Nơi đây, HQ-504 đã là sân đáp cho trực thăng của TT Nguyễn Văn Thiệu khi đi ủy lạo, và gắn huy chương cho các chiến sĩ trong cuộc hành quân này tại NeakLuong, Kampuchia.
CHT/GĐ63TT là một cấp chỉ huy rất tốt đối với nhân viên, ông phân phối cho đi phép 1 tuần đều cho mọi người theo luân phiên cứ hai tháng một lần. Tôi chưa hề đụng trận, trong suốt thời gian phục vụ tại GĐ63TT.
Tháng 06 năm 1971, tôi được điều động về Phòng 1 BTL/LLTT và được gửi đi tham dự Khoá sĩ quan Quản Trị Nhân Viên tại trường Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu. Tốt nghiệp Khoá học, tôi về đảm nhiệm chức vụ trưởng ban Nhân Sự Vụ của Phòng 1/BTL/ LLTT phụ trách việc thăng thưởng, quân kỷ cùng các hồ sơ hộ tịch, và tử tuất của BTL/ LLTT.
Tôi vẫn còn nhớ một kỷ niệm với quan Nguyễn Hùng Tâm là vào năm 1972, CHT Tuần Thám 212.2 tại Bến Lức, đã đề nghị tăng thưởng cho HQ Thiếu uý Nguyễn Hùng Tâm một bằng tưởng lục. Lúc đó cả Khóa 20 đã sắp sửa có Nghị Định thăng cấp trung uý vào tháng Bảy năm 1972, nên tôi có nói với Nguyễn Hùng Tâm là tôi sẽ trì hoãn bằng tưởng lục của Tâm cho đến sau khi đã được lên trung uý thì sẽ có lợi cho Tâm hơn khi cần dự tranh cấp bậc đại uý sau này.

Giang phao ham Loi Công HQ330
Tháng 11 năm 1972 tôi rời BTL/LLTT và được tân đáo Hạm Đội, phục vụ trên giang pháo hạm Lôi Công HQ-330 cùng với bạn Đàm Thanh Tâm, và có quan Nguyễn Thế Hùng (Hùng bạch tượng) làm cơ khí trưởng. Giang pháo hạm tuy có súng lớn nhưng cồng kềnh, xoay chuyển chậm chạp nên dễ trở thành một cái đích ngắm bắn cho Việt Cộng, và khó lái vì thượng tầng kiến trúc cao, to, và bọc gió. Tàu chúng tôi thường hoạt động vùng Năm Căn, Cà Mau và yểm trợ Vùng 4 Sông Ngòi.
Năm 1974 tôi được đi học lớp Tổng Quản Trị tại Bộ Tổng Tham Mưu, cùng với bạn Bùi Văn Tâm. Tôi đã làm trưởng lớp trong thời gian theo học tại đây. Sau khoá học, tôi được điều về làm Trưởng ban Thuyên Chuyển Hạ Sĩ Quan tại Phòng Tổng Quản Trị BTL/HQ. Làm việc tại Phòng TQT, nhất là Ban Thuyên chuyển Hạ Sĩ Quan rất khó khăn, và có quá nhiều đụng chạm, nên tôi xin đi học lớp Tham Mưu Trung Cấp.
Cuối tháng Tư năm 1975, tôi nhận được lệnh tân đáo Hải Đội 3 Duyên Phòng, làm thuyền trưởng chiếc tuần duyên đĩnh Huỳnh Văn Cự Coast Guard HQ-702. Chưa kịp trình diện đơn vị thì đã bị tan hàng.

Huy hieu DVH Qui Nhon HQ504

3. Nguyễn Văn Chừng:
Đơn vị đầu tiên tôi được phục vụ là Dương Vận Hạm Quy Nhơn HQ-504. HQ-504 nguyên là LST-509 của HQ Hoa Kỳ được hạ thủy từ tháng 11 năm 1943 do hãng đóng tàu Jeffesonville Boat & Machine Co. đóng. HQ- 504 có chiều dài khoảng 130 thước, chiều ngang khoảng 17 thước. Vận tốc trung bình khoảng 10 knotts, và có thể chở khoảng gần 1800 tấn hàng.Chiến hạm được trang bị với hai máy GM 12-567, 900 mã lực. Hai cây 40 ly kép trước mũi, 4 cây 40 ly đơn phía lái, và 12 cây 20 ly đặt chung quanh tàu.

DVH Qui Nhon HQ.504
Sau một năm, tôi được kéo về làm sĩ quan công tác tại Hải Quân Công Xưởng. Nguyễn Duy Hòa, Lưu Ngọc Quang, và tôi là những người cùng khóa 20 đầu tiên về HQCX. Sĩ quan công tác có nhiệm vụ thẩm định công tác phải làm cho những chiến hạm hay chiến đĩnh vào sửa chữa hay đại kỳ. Sau đó chúng tôi phải viết lệnh công tác để giao cho HQCX sửa chữa, và giám định công tác sau khi đã được hoàn tất.
Năm 1974, tôi được đi học khoá Tham Mưu Trung Cấp tại Trung Tâm Huấn Luyện/ HQ/Sài Gòn cho đến ngày di tản.

Huy hieu GPH Than Tien HQ228

4. Nguyễn Hữu Bích:
Đơn vị đầu tiên tôi phục vụ, là giang pháo hạm Thần Tiễn HQ-328 (LSIL- Large Infantry Landing Ship) dưới quyền hạm trưởng HQ Đại Úy Phạm Văn Hưng (K.11). Giang pháo hạm của HQ Việt Nam là những chiến hạm cũ kỹ, được Hoa Kỳ viện trợ, và thường được mệnh danh là những quan tài nổi. Giang pháo hạm được trang bị, với một cây 40 ly trước mũi. Sân giữa được trang bị với một đại bác 76ly2, hai bích kích pháo 81 ly và hai cây đại liên 50 nằm hai bên tả và hữu hạm, lui về phía sau là hai cây 20ly và hai cây BKP-60 ly. Trên đài chỉ huy có trang bị hai cây đại liên 30. Sau này chiến hạm được gắn thêm súng phóng lựu MK19. Tôi nắm chức vụ nội vụ, văn thư, kiêm sĩ quan vũ khí, và kiêm luôn cả lo phần vỏ tàu… Quan Đoàn Hữu Trí nắm phần sĩ quan ẩm thực, và kiêm luôn phần tiếp liệu.

Giang Phao Ham Than Tien HQ.328
Mỗi khi công tác tại Năm Căn, nhiệm vụ của chúng tôi là tuần tiễu, hộ tống, và yểm trợ những đơn vị Biệt Động Quân và TQLC trong những cuộc hành quân phối hợp. Trong một lần hành quân, chúng tôi có nhiệm vụ cho đổ bộ một đại đội TQLC gần Ấp Hàm Rồng trên bờ Kinh số 13 thì bị địch quân phục kích, bắn B-40 trúng bên hữu mạn, ngay sân giữa của tàu. Tôi đang làm trưởng khẩu 76ly2, và hai khẩu BKP-81ly nằm ngay bên dưới đài chỉ huy. Chúng tôi nả đạn vào những chỗ nghi ngờ, và TQLC mở cuộc tấn công ngay lập tức một khi bước chân lên bờ. Tuy không một ai bị thương, nhưng lỗ thủng của đạn B-40 nằm cách không xa chỗ chúng tôi là mấy, nên tôi đã được tuyên dương công trạng truớc trung đoàn, huy chương anh dũng bội tinh với ngôi sao đồng. Ngôi sao đồng này đã giúp tôi thăng quan tiến chức, nhanh chóng sau này hơn nhiều bạn đồng khóa.
Trong chuyến công tác thứ hai, chúng tôi phải tuần tiễu ngày đêm trên sông Mékong, đoạn từ NeakLuong lên đến Nam Vang. Trên bờ một lữ đoàn TQLC phối hợp hành quân tuần tiễu, giữ gìn an ninh trục lộ. Mỗi khi có tàu tiếp tế Nam Vang, thì chúng tôi lại cùng phồi hợp với các giang đoàn Thủy Bộ hộ tống đoàn convoy. Mỗi khi ghé Nam Vang, tàu chúng tôi thường cập bến ngay trước Dinh Norodom Sihanouk để nghỉ một ngày trước khi hộ tống đoàn convoy suôi dòng theo con nước ra biển. Đặc biệt, mỗi khi nghỉ bến này thì chỉ có các sĩ quan là được chia nhau đi bờ. Chúng tôi rong chơi thành phố Nam Vang bằng những phương tiện xích lô, xe lôi, tắc xi và cả lội bộ. Thành phố Nam Vang đẹp, và sạch. Tôi theo hạm phó, HQ Trung Úy Nguyễn Văn Đơ, K.14, đi dạo phố Nam Vang. Chúng tôi “la cà” đi uống cà phê, và uống thử món bia Nam Vang xem như thế nào? Phụ nữ Khờ Me có nước da đen dòn, nụ cười tươi mát, nhưng những cô gái có dòng máu lai Tàu, lai Pháp, hay lai Việt thì nước da lại trắng bóc. Đàn ông người Miên rắn rỏi, và có nhiều người nói giỏi tiếng Pháp. Chúng tôi phải dùng tiền Cam Bốt, đồng riel, và mỗi đồng Việt bằng bẩy đồng riel.
Trận mưa dầm,
cơn gió bấc,
bầm dập tả tơi.
Kẻ sĩ xuôi tay
(“thở khì”, muốn xin thêm vào, vì hai chữ này không có trong thơ.)
(Phong Vận Kỳ Oan – Nguyễn Đình Hoàng)
Mỗi chuyến công tác, của loại giang pháo hạm là khoảng ba tháng. Vì tàu thường bị bắn B40 hay B41 liên miên, nên vào những lúc ban đầu khi tiến qua đất Miên, tàu chúng tôi mang lỗ chỗ những vết đạn B41, được tô đâm bởi loại sơn chống sét màu gạch đỏ. Một khi trông thấy như vậy sẽ dễ làm nản lòng những người ở “hậu phương” mỗi khi về bến Sài Gòn, nên sau này chúng tôi được lệnh phải che đậy những “vết thương” như vậy trước khi về đến Sài Gòn. Vào năm 1972, giang pháo hạm HQ-328 bị VC đánh mìn chìm tại Năm Căn, Cà Mau khi tôi đã rời chiến hạm để tân đáo đơn vị mới.
Cuối năm 1971, tôi đã được thuyên chuyển về Căn Cứ HQ/Năm Căn, nắm chức vụ Sĩ Quan Nội Vụ. Chỉ huy trưởng đầu tiên là Thiếu tá CB Nguyễn Văn Mới, xử lý thường vụ chức vụ chỉ huy phó là Thiếu úy CB Nguyễn Văn Điền và sau được thay thế bởi HQ Trung uý Hồng Kim Mến (K.19). Nhiệm vụ của chúng tôi là phòng thủ căn cứ, bảo vệ an ninh và bến đậu cho các đơn vị đồn trú như các Giang Đoàn 45 Ngăn Chận, Hải Đội 5 Duyên Phòng, BCH/Trần Hưng Đạo IV, Tiền Doanh Yểm Trợ/Năm Căn, và phi trường Năm Căn. Chì huy trưởng kế tiếp là HQ Thiếu tá Nguyễn Văn Thu (K.12). Sau khi niên trưởng Hồng Kim Mến thuyên chuyển đi nơi khác, thì tôi đã được cử lên giữ chức vụ xử lý thường vụ chức vụ chỉ huy phó. Cùng chung đơn vị với tôi có các bạn cùng khoá là Nguyễn Hải (Hải ngựa) làm Sĩ Quan an ninh phòng thủ, và Nguyễn Văn Độ (AET) làm Sĩ Quan kỷ luật với HQ Thiếu úy Kim Ngọc Thành (K-21) làm phụ tá. Chỉ huy trưởng kế tiếp, là HQ Thiếu tá Trần Thanh Phong (K-14). Tôi xin đi học khóa Tổng Quản Trị một tháng tại Cam Ranh, và đã được chấp thuận. Ít lâu sau, lại xin được đi học khoá điều chỉnh pháo binh (sĩ quan đề lô) tại Bình Thủy trong hai tháng. Sau đó, thì tôi thuộc quân số của BTL/Hành Quân Sông.


Cuối năm 1972, tôi đã được lệnh thuyên chuyển về hoả vận hạm (YOG) HQ- 470, dưới quyền hạm trưởng là HQ Thiếu tá Nguyễn Bê (K-14), rồi đến HQ Thiếu tá Nguyễn Thành Danh (K-14). Tôi nắm giữ chức vụ Sĩ Quan Nội Vụ, Trọng Pháo, và Vận Chuyển. Chúng tôi nhận dầu từ các hãng Shell, Mobil, Texaco tại Nhà Bè và mang đi tiếp tế cho các Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Đồng Tâm, Tiền Doanh Yểm Trợ Tiếp Vận Năm Căn, hay Căn Cứ Yểm trợ Tiếp Vận An Thới. Mỗi khi tàu cặp bến Nhà Bè thì chúng tôi thường ăn nhậu tại quán Xanh với những món canh cá bông lau và cá kho tộ nổi tiếng, chưa kể đến cô “Út” con bà chủ coi hết sức mặn mà. Hay chạy về Sài Gòn ăn cơm của má nấu, nhưng cũng không quên ghé ngang Cầu Hàn một tý để tiếp tế cho mấy “em út” chút đỉnh gọi là “của ít lòng nhiều”. Mỗi khi ghé bến An Thới chúng tôi không quên ghé vựa Hồng Đại mua vài chai nước mắm “nhỉ” mang về làm quà cho gia đình. Chúng tôi thích đi tiếp tế An Thới vì thường hay có thêm một chút gì gọi là “bổng lộc.”
Đầu năm 1974, tôi được lệnh thuyên chuyển về Căn Cứ Hải Quân Đồng Tâm dưới quyền Chỉ Huy Trưởng là HQ Thiếu tá Nguyễn Xuân Biên (K-13); tôi nắm giữ chức vụ Xử Lý Thường Vụ Chức Vụ Chỉ Huy Phó. Các đơn vị đồn trú, gồm có SĐ7BB, BTL/ LLTrung Ương 214, CCYT/TV Đồng Tâm, GĐ 82 Phóng Thủy Hỏa, và GĐ21 Xung Phong. Đến tháng Tám thì tôi được đi thụ huấn khoá 3/74 Trung Cấp Chuyên Môn Hải Quân. Cùng khóa với tôi có các bạn Phạm Ngọc Bích (Bích Mập), và Trần Xuân (Xuân tóc đỏ).

Huy hieu tien doanh yem tro Qui Nhon

5. Trịnh Văn Thơ:
Sau khi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội về, tôi được tân đáo Tiền Doanh Yểm Trợ Quy Nhơn vời chức vụ Trưởng phòng Kỹ Thuật; chung một đơn vị với tôi có bạn cùng khoá Vương Thế Phiệt – làm Trưởng phòng Động Cơ (Cơ Khí). Chúng tôi sửa chữa các chiến đỉnh PCF, CoastGuard, và Yabuta thuộc Vùng II Duyên Hải.

Nhan vien co khi sua chua may chanh PCF.
Năm 1973, tôi được thuyên chuyển về CC/YTTV/Đồng Tâm, và làm trưởng phòng Công Thự Tiện Ích, rồi trưởng phòng Kế Hoạch Trù Liệu. Cuối tháng Ba năm 1975, tôi đã được chỉ định làm trưởng toán Sửa Chữa Lưu Động, và được biệt phái yểm trợ CC/HQ Tuyên Nhơn, Mộc Hoá trong ba tuần. Căn Cứ Tuyên Nhơn nằm trên sông Vàm Cỏ Tây cách vùng Mỏ Vẹt không xa, nên đã là một cái gai trước mắt mà bọn VC bắt buộc phải nhổ đầu tiên trên bước tiến của chúng! Áp lực của Cộng Quân đè nặng trên căn cứ Tuyên Nhơn trong những ngày cuối tháng Tư năm 1975 thật là nặng nề. Chúng tôi đã sửa chữa giang đĩnh bị hư hỏng trong tầm đạn đại pháo, và căn cứ nhận lãnh pháo kích hàng giờ của Cộng Sản. Chúng tôi đã giải quyết sửa chữa cho những gì có thể sửa chữa được cho những giang đĩnh của những giang đoàn tại chỗ. Không còn có thể làm được những gì hơn, toán yểm trợ kỹ thuật chúng tôi rời Mộc Hóa vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Ngày 25 tháng 4 năm 1975, tôi được đi phép sau những ngày công tác yểm trợ. Bạn Đinh Văn Chính chỉ vì đi phép sau tôi có ít tiếng đồng hồ thôi, nhưng đã không đi được vì không còn phương tiện. Xe của tôi chỉ vừa đi thoát qua khỏi Long An một hai tiếng đồng hồ là Quốc Lộ số 4 đã bị hai sư đoàn VC đóng chốt, và thế là gián đoạn lưu thông!
6. Nguyễn Văn Huấn:
Đơn vị đầu tiên tôi phục vụ là tuần duyên hạm Định Hải HQ-610 (PGM-69) dưới quyền hạm trưởng của HQ Đại úy Nguyễn Văn Hoà (K-12). Chúng tôi thích được hoạt động tại Vùng IV Duyên Hải, với hai mùa gió rõ rệt, hoặc chúng tôi trú bão tránh sóng tại Hàm Ninh hay bên Dương Động tùy theo mùa.

TDH Dinh Hai HQ.610.
Tháng Hai năm 1972, tôi đã được thuyên chuyển về Giang Đoàn 61-Tuần Thám đóng tại Rạch Sỏi. Rạch Sỏi nằm trên sông Cái Lớn, và cách thị xã Rạch Gía khoảng 15 cây số về hướng Nam. Chúng tôi hoạt động, chung với các giang đoàn 71/72 Thủy Bộ.
7. Phạm Văn Độ:
Sau khi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội về tôi đã làm đám cưới với người bạn gái vào tháng 10 năm 1970 trước khi tân đáo Hạm Đội, hoả vận hạm HQ-472. Chúng tôi quen nhau cũng đã lâu, và hai gia đình cùng tán thành mối tình của hai đứa. Thú thật là hồi đó tôi luôn luôn tâm niệm “đẹp giai không bằng lì đòn“ nên đã làm quen, và được nàng chiếu cố. Sự êm đềm và thành công của gia đình chúng tôi ở Việt Nam cũng như trên đất nước tạm dung này cũng là nhờ sự quán xuyến và chăm lo của bà xã của tôi một phần rất lớn. Người ta vẫn thường nói “sau lưng người đàn ông thành danh, luôn luôn có bóng dáng của một người đàn bà.” Và bà xã của tôi đã luôn luôn sát cánh bên tôi trong mọi trường hợp, những lúc lên voi cũng như xuống chó, và không một lời than van. Xin cám ơn em, người vợ yêu quý của tôi.
Sáng ra nụ cải bông vàng.
Nhớ em thay áo trên giường đầy hoa.
(Thơ Nguyên Sa)

Hoa van ham HQ472
Phục vụ trên hoả vận hạm thì rất nhàn và thường hay có tí bổng lộc, nhưng tôi chưa bao giờ lấy một đồng nào từ những món tiền thặng dư ấy! Đi chung tàu với tôi còn có các bạn Nguyễn Tấn Đực và Lê Quang Khánh. Mọi người, kể cả hạm trưởng, đã cho là tôi thích chống đối. Đúng! Tôi đã không ưa những sự vô lý, “lem nhem”, bất công, và tính tôi thì vẫn bướng bỉnh như thế.
Tháng 9 năm 1971 tôi bị đẩy đi đài kiểm báo ĐKB-102 (Sơn Trà), sau đó lại được thuyên chuyển qua ĐKB-104 (Đức Phổ, Quảng Ngãi) thuộc Vùng I Duyên Hải. Tháng 7 năm 1972 tôi được thuyên chuyển về giang đoàn 24 Xung Phong (Bình Dương) thuộc Vùng III Sông Ngòi cho đến ngày di tản. Tôi nắm chức Trưởng Khối Giang Đĩnh dưới quyền các chỉ huy trưởng như thiếu tá Trần Đức Cử (K.9), thiếu tá Nguyễn Công Hùng voi (K.12), và thiếu tá Tùng (K.13). Tôi không thích, làm việc trên văn phòng. Đi giang đĩnh, tuy có hiểm nguy nhưng thoải mái, vì tôi chia phiên cứ đi công tác một ngày thì nghỉ được ba ngày, ngoại trừ khi có những cuộc hành quân lớn. Chúng tôi hoạt động chung với các giang đoàn 52 Tuần Thám, và 30 Xung Phong trong cuộc hành quân Trần Hưng Đạo 27. Vùng hoạt động của chúng tôi trên sông Sài Gòn, trong vùng chiến khu D của Việt Cộng với các mật khu Hố Bò, Bời Lời, nên cũng có lắm địa danh như đồi 24, đồi 52, hay “lữ quán đìu hiu” – nơi đóng quân của một đại đội Địa Phương Quân nằm trơ trọi bên sông. Những ngọn đồi 24 hay 52 là tên đặt cho những nơi đã thường bị phục kích, và đã từng có các sĩ quan của các giang đoàn 24 Xung Phong hay 52 Tuần Thám bỏ mạng. Ngoài nhiệm vụ tuần tiễu, hay tiếp tế cho những đơn vị Địa Phương Quân, chúng tôi còn thường hoạt động hành quân lục soát hay kích đêm chung với đại đội Trinh Sát của Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Cùng ở chung giang đoàn 24 Xung Phong với tôi có các bạn Phan Xuân Sơn, Nguyễn Văn Thắng, và Nguyễn Đăng Khúc.

Huy hieu DVH Thi Nai HQ502

8. Trần Duy Tín:
Đơn vị đầu tiên tôi phục vụ là Hạm Đội, dương vận hạm Thị Nại HQ-502 dưới quyền hạm trưởng Trịnh Tiến Hùng (thủ khoa K.8). Khoá 20 chỉ có tôi là người duy nhất đã phục vụ trên chiến hạm này vào lúc đó, và ngoài ra còn có các đàn anh Nguyễn Văn Toàn, Mai Ngọc Lư (K.19), và Nguyễn Mai (K18). Chúng tôi đi qua Cambodge tổng cộng chín lần để vận chuyển đồ tiếp liệu tiếp tế Nam Vang và Shianoukville – còn được gọi là Kampong Som. Vốn có “máu làm ăn” và con mắt nhìn thấy “cơ hội để hái ra tiền” nên tôi đã tổ chức ngay những chuyến mua hàng có giá từ Cambodge về Việt Nam cho cả tàu chung vốn, và các món như máy phát điện, xe gắn máy Honda …

Duong van ham Thi Nai HQ502
Trong một chuyến chở dân tị nạn “cáp duồn” về Việt Nam, tôi làm sĩ quan trưởng khẩu 40 ly kép mạn phải sân mũi. Chúng tôi bị VC phục kích ở chỗ gần NeakLuong. Tàu trúng đạn B-40, tôi lúng túng chẳng biết phải phản ứng ra làm sao! Nhìn vào bên bờ thấy rừng cây rậm rạp! May thay, thượng sĩ nhất trọng pháo Sự, đã quay mũi súng hướng vào những bụi rậm trên bờ và nả đạn liên tục, làm im tiếng súng của địch quân. Năm người dân bị chết và bị thương, sau đó đã được trực thăng di tản khi về gần tới biên giới Việt Nam.
Năm 1971, quan Tôn Thất Thái, tôi và một số bạn lo chạy đôn chạy đáo tổ chức Đại Hội “Trùng Dương Hội Ngộ Khoá 20 Sĩ Quan Hải Quân” lần đầu tiên – kỷ niệm một năm Ra Khơi của khoá 20 – tại Câu Lạc Bộ nỗi HQ, bến Bạch Đằng. Với “bàn đạp” của quan Tôn Thất Thái, tất cả các đơn vị nào có “quan” của Khoá 20 phục vụ, đều đã nhận được công điện “khẩn” từ văn phòng tham mưu trưởng Hải Quân là “dành mọi sự dễ dàng cho đương sự” được về họp Khoá tại Sài Gòn! Chưa có một khoá Hải Quân nào đã có được một buổi Đại Hội họp mặt lẫy lừng, và đông đủ đến như vậy.
Năm 1972, nắm trong tay giấy giới thiệu của hạm trưởng Trịnh Tiến Hùng, tôi được thuyên chuyển về Trung Tâm Hành Quân, Bộ Tư Lệnh HQ/Vùng I Duyên Hải, và làm việc chung với các bạn Nguyễn Đình Hoàng, và Tôn Long Thạnh.
Năm 1973, tôi được biệt phái làm sĩ quan liên lạc yểm trợ hải pháo cho Tiểu Khu Quảng Ngãi cùng với hai hạ sĩ quan và hai đoàn viên. Tôi có dịp “đi bay”, cùng với Tiểu khu trưởng/ kiêm Tỉnh trưởng Quảng Ngãi, là đại tá Lê Bá Khiêu thường xuyên. Tôi được tổng cộng 7 huy chương kể cả anh dũng bội tinh với ngôi sao đồng.
Đầu năm 1975, tôi về Sài Gòn tham dự khoá 2 tham mưu trung cấp và bị kẹt lại Sài Gòn.

http://www.denhihocap.com/ds2009/ncknx.html

 

Advertisements