Sư Đoàn 2 BB.VNCH

sudoan2                    ARVN_2nd_Division_SSI.svg

SƯ ĐOÀN 2 BỘ BINH

Bản doanh: Căn cứ Chu Lai, Quảng Tín.

Sư đoàn 2[1] (tiếng Anh: 2nd Infantry Division, 2nd ID) là một đơn vị Lục quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tồn tại từ 1955 đến 1975. Là đơn vị chủ lực trực thuộc Quân đoàn I & Quân khu 1, hoạt động và trách nhiệm khu vực phía bắc Trung phần Việt Nam Cộng hòa. Sư đoàn đã được tuyên dương công trạng 16 lần trước quân đội và đã được nhận lãnh giây biểu chương màu tam hợp trên quân kỳ Sư đoàn.
Tiền thân Sư đoàn 2 Bộ binh là Liên đoàn 32 Lưu động thuộc Quân đội Liên hiệp Pháp, thành lập vào ngày 3 tháng 11 năm 1953 tại Mỹ Côi, Ninh Bình. Đến đầu tháng 1/ năm 1955 Quân đội Pháp bàn giao Liên đoàn cho sĩ quan người Việt chỉ huy và người đầu tiên chỉ huy Liên đoàn là Trung tá Tôn Thất Đính. Ngày 16 tháng 1 năm 1955, Liên đoàn 32 được lệnh giải tán và dùng làm nòng cốt để ngày 4/2/1955 thành lập Sư đoàn 32 bộ binh (theo Nghị định số 041 1P/NĐ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm), và Đại tá Đính (thăng cấp ngày 1 tháng 2 năm 1955) tiếp tục làm Tư lệnh. Đến ngày 1 tháng 8 tháng năm 1955, đổi tên thành Sư đoàn 2 Dã chiến.

Sau khi chính thể Đệ nhất Cộng hòa thành lập, vào ngày 22 tháng 11 năm 1956 Trung tá Đặng Văn Sơn thay thế Đại tá Tôn Thất Đính và sau đó, ngày 16 tháng 4 năm 1957 Trung tá Lê Quang Trọng đến nhận trách nhiệm Tư lệnh.

Ngày 1 tháng 12 năm 1958 Sư đoàn 2 dã chiến chính thức mang danh Sư đoàn 2 Bộ binh (Thời điểm này, Tư lệnh Sư đoàn là Trung tá Dương Ngọc Lắm. Bộ tư lệnh Sư đoàn đóng tại Sơn Trà (Đà Nẵng).

Tháng 5 năm 1965 Bộ Tư lệnh dời về Quảng Ngãi và nhận trách nhiệm Khu 12 chiến thuật gồm 2 Tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi. Đến năm 1971 Bộ Tư lệnh Sư đoàn di dời về căn cứ Chu Lai, tiếp nhận căn cứ của Sư đoàn 23 Bộ Binh Hoa Kỳ.

Mùa hè năm 1972 Trung đoàn 4 bộ binh do Đại tá Lê Bá Khiếu làm Trung đoàn trưởng đã được điều động tăng cường để giải tỏa áp lực đối phương tại vùng giới tuyến.

Trong lúc này Trung đoàn 4 do Đại tá Lê Bá Khiếu làm Trung đoàn trưởng được điều từ Quảng Trị trở về để phối hợp cùng Trung đoàn 5 (do Trung tá Võ Vàng làm Trung đoàn trưởng) và Trung đoàn 6 (do Đại tá Phạm Văn Nghìn làm Trung đoàn trưởng) đã mở cuộc hành quân tái chiếm các quận Quế Sơn, Tiên Phước thuộc Tỉnh Quảng Tín. Đồng thời, Sư đoàn 2 phối hợp với các lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân giải tỏa áp lực đối phương tại núi phía nam Quảng Ngãi. Từ chiến công phá tan mật khu Đỗ Xá năm 1970 cùng một số thắng lợi khác, các tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi tạm thời yên tĩnh. Sư đoàn 2 tạm ngừng bắn từ năm 1973.

Trước tình hình chính trị, với áp lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Trung nên ngày 27 tháng 3 năm 1975 toàn bộ quân khu cũng như Sư đoàn 2 tháo chạy ra Đà Nẵng. Và tại đây Sư đoàn 2 bộ binh bị xóa phiên hiệu.
Đơn vị trực thuộc

*Từ “Đại đội Tổng hành dinh” đến “Thiết đoàn Kỵ binh” được gọi là “Đơn vị Yểm trợ”

TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích
1

Trung đoàn 4

Bộ binh

10

Biệt đội Quân Báo

2

Trung đoàn 5

Bộ binh

11

Biệt đội Kỹ thuật

3

Trung đoàn 6

Bộ binh

12

Biệt đội Tác chiến

Điện tử

4

Đại đội*

Tổng hành dinh

13

Tiểu đoàn Quân y

5

Đại đội Trinh sát
Dưới quyền điều động trực tiếp của Tư lệnh Sư đoàn
14

Tiểu đoàn Truyền tin

6

Đại đội Quân Cảnh

15

Tiểu đoàn Tiếp vận

7

Đại đội Công vụ

16

Tiểu đoàn

Công binh chiến đấu

8

Đại đội Quân vận

(Quân xa)

17

Trung đoàn

Pháo binh
Các Tiểu đoàn: 20 (155ly), 21, 22, 23 (105ly)
9

Đại đội

Hành chính Tài chính

18

Thiết đoàn 4

Kỵ binh
Thuộc Lữ đoàn 1 Kỵ binh. Phối thuộc và dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Sư đoàn
Bộ Tư lệnh & Trung đoàn trực thuộc

Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng:

TT Họ & Tên Cấp bậc Chức vụ Chú thích
1

Trần Văn Nhựt

Võ bị Đà Lạt K10

Chuẩn tướng

Tư lệnh

2

Hoàng Tích Thông

Sĩ quan Thủ Đức K4

Đai tá

Tư lệnh phó

3

Nguyễn Khoa Bảo

Võ bị Đà Lạt K10

nt

Tham mưu trưởng

4

Trương Đăng Liêm

Sĩ quan Thủ Đức K4

nt

Chỉ huy

Trung đoàn 4
Sau khi Sư đoàn 2 (trong đó có Trung đoàn 4) tan rã ở miền Trung. Ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Thuận thay thế Đại tá Ngô Tấn Nghĩa
5

Cẩm Ngọc Huân

nt

Chỉ huy

Trung đoàn 5

6

Tôn Thất Hổ

Trung tá

Chỉ huy

Trung đoàn 6

Pháo binh Sư đoàn

Đơn vị Yểm trợ
Chức danh Chỉ huy sau cùng:

TT Họ & Tên Cấp bậc Chức vụ Đơn vị Chú thích
1

Lê Thương

Đại tá

Chỉ huy trưởng

Bộ chỉ huy
Pháo binh Sư đoàn
Tiểu đoàn 20, 21, 22, 23
Trực thuộc Bhỉ huy Pháo binh Quân khu 1. Phối thuộc Sư đoàn 2 Bộ binh
2

Huỳnh Nứa

Thiếu tá

Tiểu đoàn trưởng

Tiểu đoàn 20
Trực thuộc Bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn
3

Nguyễn Văn Hà

Trung tá

nt

Tiểu đoàn 21

nt
4

Thái Thành Hội

Thiếu tá

nt

Tiểu đoàn 22

nt
5

Chu Mạnh

Trung tá

nt

Tiểu đoàn 23

nt
Tư lệnh Sư đoàn

Kể từ ngày thành lập đến sau cùng, trải qua 13 vị Tư lệnh:
*Cấp bậc khi nhậm chức

STT Họ và Tên Cấp bậc
tại nhiệm Thời gian
tại chức Chú thích
1
Tôn Thất Đính

Võ bị Huế K1
Trung tá
(1954)

1/1955-11/1956
Giải ngũ năm 1966 ở cấp Trung tướng
2

Đặng Văn Sơn

Hạ sĩ quan Pháp
nt
11/1956-6/1957
Sau giải ngũ ở cấp Đại tá
3
Lê Quang Trọng
Võ bị Huế K2

nt
6/1957-8/1958
Sau giải ngũ ở cấp Đại tá
4
Dương Ngọc Lắm
Võ bị Liên quân Viễn Đông
Trung tá
(1956)
Đại tá
(1959)
8/1958-6/1961
Giải ngũ năm 1964 ở cấp Thiếu tướng
5

Lâm Văn Phát

Võ bị Liên quân Viễn Đông
Đại tá
(1960)

6/1961-6/1963
Giải ngũ năm 1965 ở cấp Thiếu tướng. Ngày 29 tháng 4 năm 1975 tái ngũ được thăng cấp Trung tướng
6
Trương Văn Chương
nt
6/1963-12/1963
Giải ngũ sau sự kiện 1 tháng 11 năm 1963
7
Tôn Thất Xứng
Võ bị Huế K1
Đại tá
(1958)
12/1963-1/1964
Giải ngũ năm 1967 ở cấp Thiếu tướng
8
Ngô Du
Võ bị Huế K2
Đại tá
(1963)
1/1964-7/1964
Giải ngũ năm 1974 ở cấp Trung tướng
9
Nguyễn Thanh Sằng
Võ bị Huế K2
Đại tá
(1963)
7/1964-10/1964
Giải ngũ năm 1973 ở cấp Thiếu tướng
10
Hoàng Xuân Lãm

Võ bị Đà Lạt K3
Chuẩn tướng
(8/12964)
10/1964-1/1967
Sau cùng là Trung tướng phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng
11
Nguyễn Văn Toàn
Võ bị Đà Lạt K5
Đại tá
(1/1967)
Chuẩn tướng
(1968)
Thiếu tướng
(1970)

1/1967-1/1972
Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III
12

Phan Hòa Hiệp

Võ bị Đập Đá Huế K2
Địa phương Trung Việt
Đại tá
(1969)
Chuẩn tướng
(2/1972)
1/1972-8/1972
Sau cùng là Chuẩn tướng Trưởng đoàn Quân sự 2 bên
13
Trần Văn Nhựt
Đại tá
(1971)
Chuẩn tướng
(11/1972)
8/1972- 4/1975
Tư lệnh sau cùng
—————————-
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Advertisements