Sư Đoàn 25 BB.VNCH

sudoan25

SƯ ĐOÀN 25 BỘ BINH

Bản doanh: Căn cứ Đồng Dù, Củ Chi, Hậu Nghĩa.

Sư đoàn 25 (1962-1975). là một trong 3 đơn vị chủ lực trực thuộc Quân đoàn III & Quân khu 3 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Được thành lập vào thời kỳ cuối của nền Đệ nhất Cộng hòa. Do trong địa bàn Quân khu 3 có Thủ đô Sài Gòn là nơi đặt các cơ quan đầu não của Chính phủ và Quân đội, nên trong hoàn cảnh này Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa quyết định thành lập thêm Sư đoàn 25 bộ binh. Sư đoàn 25 khi thành lập tham gia hoạt động ngay tại chiến trường miền Trung, sau đó vào trú đóng ở miền đông Nam phần của Việt Nam Cộng hòa. Vào giai đoạn này Quân đoàn III mới chỉ có 1 đơn vị chủ lực là Sư đoàn 5 Bộ binh.
Sư đoàn 25 bộ binh được thành lập vào ngày 1/7/1962 tại Quảng Ngãi do Đại tá Nguyễn Văn Chuân làm Tư lệnh đầu tiên. Qua 1 năm hoàn thành guồng máy tổ chức và huấn luyện. Sư đoàn đã chính thức xuất quân vào ngày 1/3/1963. Đầu năm 1964, Sư đoàn được lệnh di chuyển vào miền Nam lãnh trách nhiệm bảo vệ an ninh tại 3 tỉnh: Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An thuộc khu vực miền đông Nam phần.

Đến năm 1970-1971, Sư đoàn đã thực sự trưởng thành như bất kỳ 1 đơn vị thiện chiến nào khác, chuyển qua hoạt động ở chiến trường Campuchia. Năm 1972 tham gia đối đầu với Quân đội Bắc Việt trong trận chiến Mùa hè đỏ lửa. Đã chịu tổn thất khá nặng mặc dù có hỏa lực từ B52 yểm trợ.

Qua những thành tích chiến thắng nổi bật, Sư đoàn đã 6 lần được tuyên dương công trạng trước Quân đội. Ngày 31/1/1973 Bộ Quốc phòng đã quyết định cho toàn thể quân nhân các cấp thuộc Sư đoàn được mang giây biểu chương màu Bảo quốc huân chương (nghị định 097B/QP/NĐ/GBC). Sư đoàn được mệnh danh là đơn vị Sấm sét miền đông.

Năm 1975, tướng Lý Tòng Bá chỉ huy sư đoàn 25 phòng thủ ở Đồng Dù, huyện Củ Chi. Hệ thống phòng thủ chịu mũi vu hồi của Sư 10 thuộc Quân đoàn 3 Bắc Việt, rồi lại bị sư đoàn 320 tấn công mạnh với xe tăng và bộ binh, lần lượt thất thủ. Sư đoàn 25 tan hàng, Tướng Bá bị du kích Củ Chi bắt sống, tác động liên tiếp đến sự thất thủ của chính quyền Sài Gòn vào ngày 30/4.
Đơn vị trực thuộc

*Từ “Đại đội Tổng hành dinh” đến “Thiết đoàn kỵ binh” được gọi là “Đơn vị yểm trợ” trực thuộc Sư đoàn

TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích
1

Trung đoàn 46

Bộ binh

10

Biệt đội Quân báo

2

Trung đoàn 49

Bộ binh

11

Biệt đội Kỹ thuật

3

Trung đoàn 50

Bộ binh

12

Biệt đội Tác chiến

Điện tử

4

Đại đội*

Tổng hành dinh

13

Tiểu đoàn Quân y

5

Đại đội Trinh sát

14

Tiểu đoàn Truyền tin

6

Đại đội Quân cảnh

15

Tiểu đoàn Tiếp vận

7

Đại đội Công vụ

16

Tiểu đoàn

Công binh chiến đấu

8

Đại đội Quân vận

(Quân xa)

17

Trung đoàn

Pháo binh
Các Tiểu đoàn: 250 (155ly), 251, 252, 253 (105ly)
9

Đại đội

Hành chính Tài chính

18

Thiết đoàn 10

Kỵ binh
Thuộc Lữ đoàn 3 Kỵ binh. Phối thuộc và dưới quyền điều động của Tư lệnh Sư đoàn
Bộ Tư lệnh & Trung đoàn trực thuộc

Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng:

TT Cấp bậc Họ & Tên Tại chức Chú thích
1

Chuẩn tướng

Lý Tòng Bá

Võ bị Đà Lạt K6

Tư lệnh

2

Đại tá

Trương Thắng Chức

Võ bị Móng Cái

Tư lệnh phó

3

Trung tá

Vũ Lộ

Chỉ huy

Trung đoàn 50

Pháo binh Sư đoàn

Đơn vị Yểm trợ
Chức danh Chỉ huy sau cùng:

TT Họ & Tên Cấp bậc Chức vụ Đơn vị Chú thích
1

Phạm Hữu Nghĩa

Võ bị Đà Lạt K10

Trung tá

Chỉ huy trưởng

Bộ chỉ huy Pháo binh

Sư đoàn

Trực thuộc Bộ chỉ huy Pháo bunh

Quân khu 3.
Phối thuộc Sư đoàn 25 bộ binh
2
Huỳnh Vinh
Sĩ quan Thủ Đức K5
nt
Tiểu đoàn trưởng
Tiểu đoàn 250
Trực thuộc Bộ chỉ huy
Pháo binh Sư đoàn
3
Phạm Văn Minh
Sĩ quan Thủ Đức K5
nt
nt
Tiểu đoàn 251
nt
4
Phạm Minh Châu
Sĩ quan Thủ Đức K7
Thiếu tá
nt
Tiểu đoàn 252
nt
5
Trần Văn Yến
nt
nt
Tiểu đoàn 253
nt
Tư lệnh Sư đoàn
Kể từ ngày thành lập đến sau cùng, trải qua 9 vị Tư lệnh:
*Cấp bậc khi nhậm chức

TT Cấp bậc* Họ & Tên Tại chức Chú thích
1
Đại tá
Nguyễn Văn Chuân
Võ bị Huế K1
2/1962-12/1962
Giải ngũ năm 1966 ở cấp Thiếu tướng
2
nt
Lữ Lan
Võ bị Đà Lạt K3
12/1962-3/1964
Sau cùng là Trung tướng Chỉ huy trưởng Trường cao đẳng Quốc phòng
3
nt
Nguyễn Viết Đạm
Sĩ quan Nam Định
3/1964-12/1964
Giải ngũ cùng cấp
4
Chuẩn tướng
Nguyễn Thanh Sằng
Võ bị Huế K2
12/1964-3/1965
Giải ngũ năm 1973 ở cấp Thiếu tướng
5
nt
Phan Trọng Chinh
Võ bị Đà Lạt K5
3/1965-11/1968
Sau cùng là Trung tướng Chỉ huy trưởng Trường Chỉ huy & Tham mưu
6
nt
Nguyễn Xuân Thịnh
Võ bị Đà Lạt K3
11/1968-1/1972
Sau cùng là Trung tướng Chỉ huy trưởng Pháo binh
7
Đại tá
Lê Văn Tư
Võ bị Đà Lạt K5
1/1972-11/1973
Sau cùng là Chuẩn tướng
8
nt
Nguyễn Hữu Toán
Sĩ quan Nam Định
11/1973-12/1974
Sau cùng là Đại tá Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Lam Sơn và Huấn khu Dục Mỹ
9
Chuẩn tướng
Lý Tòng Bá
12/1974-4/1975
——————-
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Advertisements