Tr. Tướng Đặng Văn Quang

dangvanquang

Đặng Văn Quang (1929 – 2011) nguyên là một tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang cấp bậc Trung tướng. Xuất thân từ khoá đầu tiên của trường Võ bị (Khóa 1 Phan Bội Châu được mở ra ở Huế) để đào tạo sĩ quan người Việt. Ông được đánh giá là người có quyền lực thứ tư, sau Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên tại Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1967 – 1975. Ông bị giới báo chí trong và ngoài nước coi là người đứng đầu về tham nhũng và buôn lậu tại Việt Nam thời Chiến tranh Việt Nam. Ý kiến khác cho rằng, những lời cáo buộc như vậy là sai sự thật.[1]
Tiểu sử & gia đình

Ông sinh ngày 21 tháng 4 năm 1929, trong một gia đình Công giáo tại tỉnh Sóc Trăng (sau đổi tên là Ba Xuyên), miền Nam Việt Nam. Thời niên thiếu, do gia đình có điều kiện, ông theo học Tiểu học ở trường Lasan Tabert Sóc Trăng. Khi lên cấp, ông được chuyển lên Sài Gòn học nội trú cũng ở trường Lasan Tabert, ông đã học xong bậc Trung học và tốt nghiệp Tú tài.

Thân phụ: Làm công chức tại Sóc Trăng, mất sớm (nguyên quán: Tân Châu, Châu Đốc, Tổ phụ là quan lại Triều Nguyễn từ miền Trung bổ nhiệm về Châu Đốc)
Phu nhân: Bà Đỗ Thị Năm (sinh năm 1927. Ông bà có 7 người con gồm 3 trai, 4 gái)
Binh nghiệp
Năm 1949: Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp tại Đông Dương. Do có trình độ học vấn, nên ông được tuyển vào khóa đào tạo sĩ quan đầu tiên của Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 49/118.624. Theo học khóa 1 Bảo Đại (sau cải danh thành khoá Phan Bội Châu, khai giảng: 8/1/1949) trường Võ bị Huế (tiền thân của trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt sau này). Ngày 26/9/1949: Mãn khoá và tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy.
Quân đội Quốc gia

Năm 1950: Sau khi Quân đội Quốc gia chính thức được thành lập. Ông nằm trong danh sách 10 sĩ quan (tốt nghiệp và đỗ đầu khoá Phan Bội Châu) được cử đi du học tại trường sĩ quan bộ binh (École d’Application d’Infanterie Coetquidan) Bretagne, Pháp. Cùng đi du học với ông còn có các Thiếu úy: Nguyễn Hữu Có (tốt nghiệp thủ khoa), Nguyễn Văn Thiệu, Tôn Thất Đính, Nguyễn Văn Chuân… Hầu hết về sau đều lên cấp tướng. Chinh trong lớp này, ông với người bạn Nguyễn Văn Thiệu đã khởi đầu mối quan hệ thân thiết giữa 2 người sau này.

Năm 1951: Về nước, ông được thăng cấp Trung úy, thuyên chuyển về đơn vị Vệ binh ở Cần Thơ.

Năm 1953: Thăng cấp Đại úy làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 55 Việt Nam ở Phủ Lý, Bắc Việt. Có nhiệm vụ an ninh trục lộ từ Phủ Lý đến Nam Định. Cuối năm 1953, theo học khoá Tham mưu cao cấp tại Trương Tham mưu Hà Nội, qua năm 1954 mãn khoá và tháng 7 cùng năm cùng đơn vị di chuyển vào Nam theo Hiệp định Genève.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa   trungtuongdangvanquang_f

Năm 1955: Ông được sát nhập vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Do là người Công giáo, lại là sĩ quan được đào tạo căn bản và có kinh nghiệm chỉ huy, ông được Tổng thống Ngô đình Diệm thăng lên cấp Thiếu tá, cử làm Tham mưu trưởng Quân khu 2 do Đại tá Lê Văn Nghiêm làm Tư lệnh.

Năm 1956: Ông được giữ chức Tham mưu trưởng Quân khu 2 do Đại tá Lê Văn Nghiêm làm Tư lệnh.

Năm 1957: Ông được cử đi học tại trường Chỉ huy và Tham mưu ở Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ.

Năm 1958: Mãn khoá về nước được thăng cấp Trung tá tiếp tục phục vụ Quân khu 2.

Năm 1959: Ông được giao nhiệm vụ làm Tổng giám đốc Tổng nha Bảo An. Tháng 10 cùng năm ông được thăng cấp Đại tá.

Năm 1960: Ông làm Tham mưu trưởng Quân đoàn I do Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm làm Tư lệnh.

Năm 1961: Ông được cử đi học và tốt nghiệp khóa Điều hành Tiếp vận Lục quân tại Fort Lee, Virginia, Hoa Kỳ.

Năm 1962: Đầu năm, về nước ông được giao chức Tham mưu phó Tiếp vận Bộ Tổng tham mưu, qua năm 1963 kiêm Trưởng phòng Huấn luyện trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.
Lên tướng thời “Loạn tướng”

Trong cuộc đảo chính lật đổ tổng thống Diệm năm 1963, ông không nằm trong nhóm tham gia đảo chính, vì vậy ông không được xét thăng cấp như hai người bạn cũ là Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Hữu Có (được thăng Thiếu tướng). Tuy nhiên, sau đảo chính nhờ mối quan hệ thân tình với 2 người bạn này, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội. Đầu năm 1964, ông được cử giữ chức Trưởng phòng 4 Bộ Tổng tham mưu, tháng 6 cùng năm được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh thay thế Đại tá Cao Hảo Hớn (sau là Trung tướng). Không hài lòng với quyền lãnh đạo của “Nhóm tướng già” do các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và Mai Hữu Xuân cầm đầu, ông gia nhập nhóm sĩ quan ủng hộ tướng Nguyễn Khánh thực hiện cuộc “Chỉnh lý” vào tháng 1 năm 1964. Chính vì vậy tại Bạch Dinh ở Vũng Tàu năm 1964 quy chế thêm cấp Chuẩn tướng được đặt ra.

Năm 1964: Tháng 8, ông được vinh thăng cấp Chuẩn tướng. Cùng đợt phong cấp Chuẩn tướng này có các Đại tá: Nguyễn Cao Kỳ, Vĩnh Lộc, Nguyễn Bảo Trị, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Hoàng Xuân Lãm, Lê Nguyên Khang, Nguyễn Văn Kiểm… Cuối năm, ông được vinh thăng Thiếu tướng.

Năm 1965: Đầu năm, bàn giao Sư đoàn 21 lại cho Đại tá Nguyễn Văn Phước (nguyên Tham mưu trưởng Sư đoàn) để đi nhậm chức Tư lệnh Quân đoàn IV & Vùng 4 Chiến thuật kiêm Đại biểu Chính phủ Miền Tây thay thế Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu (tham chính với chức Đệ nhị Phó Thủ tướng trong Nội các Thủ tướng Trần Văn Hương) Nhận thấy uy tín của tướng Khánh trong dân chúng và quân đội xuống thấp, ông tham gia “Nhóm tướng trẻ” do tướng Nguyễn Cao Kỳ và người bạn cũ Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu. Ngày 19/2/1965, đã nổ ra cuộc đảo chính do tướng Lâm Văn Phát và Đại tá Phạm Ngọc Thảo cầm đầu. “Nhóm tướng trẻ” nhanh chóng tập hợp lượng lượng ngăn chặn đảo chính nhưng cũng đồng thời phế truất quyền lực của tướng Khánh chỉ 2 ngày sau đó. Ngày 25/2/1965, tướng Nguyễn Khánh phải nhận chức đại sứ lưu động ở nước ngoài. Nhờ công trạng này. Cuối năm 1965, ông tiếp tục được thăng cấp Trung tướng. Cùng đợt thăng cấp Trung tướng này có Cao Văn Viên, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Chánh Thi… Tuy nhiên, sau khi tướng Nguyễn Cao Kỳ đã lên nắm quyền, nhân xảy ra vụ “Biến động Miền Trung” tháng 3 năm 1966, tướng Kỳ đã nhân cơ hội gạt các tướng lĩnh không thuộc nhóm mình ra khỏi những vị trí chủ chốt. Ngày 14 tháng 7 năm 1966, các tướng Tôn Thất Đính và Nguyễn Chánh Thi bị Hội đồng Tướng lãnh đưa ra xét xử. Tháng 11/1966, đến phiên tướng Đặng Văn Quang bị hất khỏi chức vụ chỉ huy trong quân đội. Theo tướng Nguyễn Cao Kỳ thì tướng Quang bị cách chức vì các cáo buộc tội buôn lậu. Một số tài liệu cho rằng nguyên do là tướng Quang thường xuyên không thực hiện mệnh lệnh của chính phủ tướng Kỳ. Đầu năm sau, nhân vật thứ ba của chính quyền là tướng Nguyễn Hữu Có cũng bị đẩy đi làm Đại sứ lưu động.

Năm 1966: Tháng 11, bàn giao Quân đoàn IV lại cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh, ông được triệu hồi về Trung ương.
Một trong những nhân vật quyền lực Đệ nhị Cộng hòa

Tuy bị tướng Kỳ gạt ra khỏi quân đội, nhưng nhờ sự bảo lãnh của người bạn cũ Nguyễn Văn Thiệu, ông vẫn không bị đẩy ra nước ngoài mà bị “hất lên” chức vụ Tổng ủy viên Kế hoạch trong Ủy ban Hành pháp Trung ương (hay chính phủ của tướng Kỳ). Sau khi Nguyễn Văn Thiệu nhậm chức Tổng thống, ông được cừ vào chức vụ Cố vấn Tổng thống về Quân sự, Phụ tá An ninh và Tình báo Quốc gia, Tổng thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia. Với những chức vụ này, ông trở thành người có quyền lực thứ tư trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Tai tiếng

Trong thời Chiến tranh Việt Nam có nhiều lời đồn đại rằng ông là người tham nhũng và buôn lậu bạch phiến. Các cáo buộc như thế cũng được nhà báo Mỹ Alfred W.McCoy kể trong tác phẩm của mình, “The Politics of Heroin in Southeast Asia”. Sau này, báo chí Việt Nam cũng nêu danh ông là một người tham nhũng nhất chính quyền miền Nam trước năm 1975.[2].
1975

Sau khi di tản khỏi Việt Nam, ông được đưa vào trại tập trung người tỵ nạn ở tiểu bang Arkansas, Hoa Kỳ. Vì lo sợ cho số mạng của mình trong trại nên ông rời trại này và sang Canada. Ở đây, ông lại bị chính phủ Canada ra lệnh trục xuất ông với lý do dựa vào những lời đồn xấu về ông. Cả Hoa Kỳ và Canada cũng như các nước khác đều từ chối cho ông định cư, ngoại trừ chính phủ Việt Nam chấp thuận nhận lại ông nhưng không bảo đảm với chính phủ Canada rằng ông sẽ không bị xử tử nếu bị cưỡng bách hồi hương.[3]
Mãi cho đến năm 1988, cựu Trung tá lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ là Dan Marvin, từng phục vụ tại Quân đoàn mà tướng Quang làm tư lệnh, biết được việc chính phủ Hoa Kỳ không cho phép ông vào Mỹ nên đã vận động để trả lại công bằng và danh dự cho ông.[4]
Trong “Drugs, Corruption, and Justice in Vietnam and Afghanistan… A Cautionary Tale”, được đăng trên Hệ thống Tin tức Lịch sử của Đại học George Mason, Merle L. Pribbenow cho rằng:

Trong cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, những tin đồn bắt đầu lan nhanh tại Sài Gòn cho rằng tướng Quang là một trong những kẽ buôn lậu bạch phiến hàng đầu tại Nam Việt Nam; rằng ông là một nhân viên có trả lương của CIA; và rằng ông là người thu nhận tiền tham nhũng của Nguyễn Văn Thiệu. Những tin đồn này, nhiều tin do các đối thủ chính trị của tổng thống Thiệu tung ra (trong đó có cả những người thân tín của phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ), được giới truyền thông Việt Mỹ đón bắt và phát tán sâu rộng. Ngoài việc được tường thuật trên báo chí và hệ thống truyền hình Mỹ, những lời cáo buộc này cũng còn được ghi lại khá ly kỳ trong một cuốn sách có tựa đề là “The Politics of Heroin in Southeast Asia….”.[3]

Cũng theo tác giả ở trên, tướng Quang sống trong nghèo túng tại Canada và Hoa Kỳ, làm những công việc tay chân như quét dọn, rửa chén và sắp xếp hành lý ở phi trường, ngược hẳn lại những gì đã được đồn thổi rằng ông có trương mục ngân hàng ở Thụy Sĩ để cất giấu tiền tham nhũng và buôn lậu. Điều này chứng tỏ rằng những lời cáo buộc trước kia là hoàn toàn sai sự thật. Ngoài ra, các báo cáo của CIA được giải mật sau này cũng đã giúp chính phủ Hoa Kỳ loại ông ra khỏi danh sách những nhân vật bị tình nghi có liên quan đến bạch phiến. Sau cùng chính phủ Hoa Kỳ cấp visa cho ông trở về Hoa Kỳ.

Ông qua đời tại thành phố Sacramento, California ngày 15 tháng 07 năm 2011
——————-
BÁCH KHOA TOÀN THƯ

Advertisements