Tr.Tướng Hoàng Xuân Lãm

hoang-xuan-lam-4

General Lam Being Attentive
07 Jul 1967, Danang, South Vietnam — Closeups are shown here of General Lam,

Hoàng Xuân Lãm (1928-) nguyên là tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang cấp bậc Trung tướng. Chuyên môn của ông về mặt Quân sự là ngành Kỵ binh-Thiết giáp, vì sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan ông tình nguyện vào Binh chủng Thiết giáp. Tuy nhiên ông chỉ phục vụ trong Binh Chủng được 8 năm (1952-1959). Sau đó ông được điều chuyển sang Bộ Binh, cuối cùng là Tư lệnh Quân đoàn & Vùng chiến thuật. Sau “mùa hè đỏ lửa” 1972 ông bị cách chức, bị thuyên chuyển về Bộ Quốc phòng giữ những chức vụ không quan trọng.
Tiếu sử & Binh nghiệp

Ông sinh vào tháng 10 năm 1928 tại Quảng Trị trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Song thân là 2 cụ Hoàng Trọng Thuần và cụ Hồ Thị Đạt. Ông đã tốt nghiệp Trung học Phổ thông, sau đó làm giáo viên Tiểu học, nhưng không được bao lâu ông có giấy gọi đi trình diện nhập ngũ.

Tháng 9 năm 1950, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 48/201.368. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (Còn được gọi là khoá đầu tiên khi Trường Võ bị Quốc gia từ Huế dời về Đà lạt, khai giảng ngày 1/10/1950, mãn khoá ngày 25/6/1951). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch và được chuyển về đơn vị bộ binh với chức vụ Trung đội trưởng.

Đầu tháng 10 năm 1952, ông trúng tuyển vào binh chủng Thiết giáp và được cử theo học khóa căn bản Thiết giáp tại Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Viễn Đông của Quân đội Pháp tại Cap Saint Jacquues (Vũng Tàu) từ 1/10/1952 đến 1/4/1953.

Cùng theo học còn có các Thiếu úy:

Lý Tòng Bá (khoá 6 Đà Lạt, sau cùng là Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 25 bộ binh)
Nhan Nhật Chương (sau cùng là Đại tá Tiểu khu Trưởng Tiểu khu An Xuyên)
Phan Hòa Hiệp (khóa 1 Võ bị Địa phương Trung Việt (Đập Đá, Huế), sau cùng là Chuẩn tướng Tổng trưởng Thông tin & Chiêu hồi)
Trần Quang Khôi (khóa 6 Đà Lạt, sau cùng là Chuẩn tướng Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh)
Nguyễn Văn Toàn (khóa 5 Đà Lạt, sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III)
Nguyễn Văn Tồn (khóa 3 Đà Lạt, sau cùng là Đại tá Tham mưu phó Bộ Chỉ Huy Thiết giáp)

Tháng 6 năm cùng năm, mãn khóa học căn bản ông thăng cấp Trung úy giữ chức vụ Chi đội trưởng thuộc Chi đoàn 4 Thám thính, đồn trú tại Cao nguyên Trung phần. Cuối năm này, ông tiếp tục được cử đi du học khóa cao cấp Thiết giáp tại Trường Kỵ binh Saumur, Pháp. Qua năm 1954, sau Hiệp định Genève, ông được thăng cấp Đại úy. Tham gia Chiến dịch chống quân phiến loạn Bình Xuyên.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Tháng 10 năm 1955, ngay sau nền Đệ nhất Cộng hòa ra đời, ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Kỵ binh thay thế Thiếu tá Vĩnh Lộc được cử đi du học khoá Chỉ huy & Tham mưu tại Hoa Kỳ. (Qua năm 1956 Trung đoàn 1 Kỵ binh được cải danh thành Trung đoàn 1 Thiết giáp).

Đầu tháng 5 năm 1957, ông được lệnh bàn giao Trung đoàn 1 Thiết giáp lại cho Đại úy Dương Hiếu Nghĩa (khoá 5 Đà Lạt, sau cùng là Đại tá trong Uỷ ban Liên hợp 4 bên). Cuối tháng này ông được thăng cấp Trung tá và được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Thiết giáp tại trại Trần Hưng Đạo thay thế Trung tá Dương Ngọc Lắm (khoá Đỗ Hữu Vị trường Sĩ quan Nước Ngọt Vũng Tàu, sau cùng là Thiếu tướng Đô trưởng Sài Gòn, giải ngũ năm 1964).

Tháng 6 năm 1959, nhận lệnh bàn giao Bộ chỉ huy Thiết giáp lại cho Thiếu tá Nguyễn Văn Thiện (khoá 2 Thủ Đức, sau cùng là Chuẩn tướng Tư lệnh Đặ khu Quảng Nam-Đà Nẵng, tử nạn phi cơ năm 1970 đang trên đường từ Đà Nẵng bay về Sài Gòn dự lễ gắn lon cho chính mình, trước đó đã nhận Quyết định thăng cấp), để đi học khoá Chỉ huy & Tham mưu tại Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Sang năm 1960, mãn khoá về nước ông được phục vụ tại Trường Đại học Quân sự (tiền than của trường Chỉ huy & Tham mưu sau này).

Tháng 2 năm 1963, ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh thay thế Đại tá Lê Quang Trọng (khoá 2 Võ bị Huế, sau cùng là Đại tá Tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh, giải ngũ năm 1964).

Tháng 8 năm 1964, ông được vinh thăng hàm Chuẩn tướng tại nhiệm, tháng 10 cùng năm nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 23 lại cho Đại tá Tư lệnh phó Nguyễn Xuân Thịnh (khoá 3 Đà Lạt, sau cùng là Trung tướng Chỉ huy trưởng Pháo binh Trung ương). Cùng tháng ông được bổ nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Thanh Sằng (khoá 2 Võ bị Huế, sau cùng là Thiếu tướng Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn IV, giải ngũ năm 1973). Đến tháng 11 năm 1965 ông được vinh thăng hàm Thiếu tướng tại nhiệm.

Cuối tháng 5 năm 1966, ông được kiêm Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao (khoá 2 Võ bị Huế, giải ngũ năm 1966). Tháng 11 cùng năm bàn giao Sư đoàn 2 lại cho Đại tá Nguyễn Văn Toàn để chính thức giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I. Đến tháng 7 năm 1967 ông được vinh thăng hàm Trung tướng tại nhiệm.

Năm 1971, ông được cử giữ chức Tư lệnh cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 (Diễn ra vào năm 1971 khu vực đường 9 Nam Lào nên gọi là 719, khai diễn ngày 8-2-1971, kết thúc ngày 6-4-1971). Đến đầu tháng 5 năm 1972, sau vụ thất thủ Quảng Trị, được lệnh bàn giao Quân đoàn I lại cho Trung tướng Ngô Quang Trưởng (khoá 4 Thủ Đức). Giữa tháng 5 cùng năm, ông được cử làm Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng (thực tế chỉ là một “chức vụ ngồi chơi xơi nước”).
1975

Trưa ngày 29/4 từ Vũng Tàu di tản ra khơi trên Cơ Xưởng Hạm Vĩnh Long HQ 802. Hạm Trưởng là HQ Trung tá Vũ Quốc Công (sinh năm 1938 tại Nam Định. Tốt nghiệp khoá 10 Trường Sĩ Quan Hải quân Nha Trang).

Sau ngày 30-4-1975, định cư tại Davis, California, Hoa Kỳ.
——————-
BÁCH KHOA TOÀN THƯ

Advertisements