Tr.Tướng Linh Quang Viên

Linh Quang Viên (1918-2013) nguyên là tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Xuất thân từ trường Võ bị do Quân đội Pháp mở ra ở Bắc Việt nhằm đào tạo sĩ quan cho các thí sinh trên toàn Đông Dương với mục đích phục vụ cho Quân đội chính quốc Pháp. Ông đã từng tham gia làm cấp chỉ huy và chiến đấu dưới Tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng. Ông cũng từng chỉ huy các đơn vị Địa phương người dân tộc Tự trị vùng Đông bắc, Bắc Việt. Sau ông làm đến chức vụ Tổng trưởng Nội vụ trong Nội các Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Tiểu sử & Binh nghiệp                linhquangvien

Ông sinh ngày 11 tháng 11 năm 1918 tại Hòa an, Cao Bằng, vùng đông bắc Bắc phần trong một gia đình quan lại. Khi học lên Trung học, ông học ở trường Albert Sarraut Hà Nội từ năm 1933 đến năm 1939. Tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần ban Triết.

Năm 1939, ông nhập ngũ vào Quân đội Pháp, mang số quân: 38/300.619. Sau đó được theo học khóa 1 tại trường Võ bị Tông, Sơn Tây (*). Chỉ huy trưởng là Đại tá Corbonel. Tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy. Ra trường tháng 10 năm 1940, ông được cử làm Trung đội trưởng thuộc Chiến đoàn 4 Lưu động, đồn trú tại vùng tây bắc Bắc phần. Qua năm 1942, ông được thăng cấp Thiếu úy.

(*) Đầu tiên trường sĩ quan Sơn Tây chỉ dành cho thí sinh miền Bắc và miền Trung. Trường Sĩ quan Thủ Dầu Một dành cho thí sinh Nam Việt, Miên và Lào, cả 2 trường đều mở cùng một lúc. Sau trường Thủ Dầu Một giải tán, chỉ còn trường Sơn Tây nhận thí sinh cho cả người Việt, Miên và Lào thêm mấy khóa nữa.
Quốc dân đảng

Tháng 3 năm 1943, ông được giải ngũ, trở về với đời sống dân sự cư ngụ ở Tỉnh Vĩnh Yên và tham gia Quốc dân đảng ở Đảng bộ Vĩnh Yên. Đến tháng 8 năm 1945, ông làm Uỷ viên Quân sự thuộc Đệ tam Khu chiến của Việt Nam Quốc dân đảng gồm các Tỉnh từ Vĩnh yên lên đến Tuyên Quang, Lào Cai và Lai Châu. Tham gia các trận chiến chống Việt Minh tấn công vào Đệ tam khu chiến từ năm 1945 cho đến năm 1946. Sau đó ông làm Chỉ huy trưởng trường Quân chính Vĩnh Yên (tiền thân của trường Lục quân Yên Bái).
Trở lại binh nghiệp

Cuối năm 1946, sau khi Đệ tam khu chiến tan vỡ ông trở về Hà Nội và bị An ninh Quân đội Pháp bắt giữ điều tra. Sau đó, ông được trả tự do và tình nguyên tái ngũ vào Quân đội Liên Hiệp Pháp với cấp bậc cũ (Thiếu úy). Qua tháng giêng năm 1947, ông được cử giữ chức chỉ huy Trung đội Nùng ở Tiên Yên, Móng Cái, luân phiên hành quân vùng biên giới Việt-Hoa. Tháng 9 cùng năm ông được thăng cấp Trung úy, biệt phái giữ chức Phụ tá cho Đại tá Vòng A Sáng Chỉ huy trưởng khu tự trị Nùng ở Móng Cái. Cuối năm này, ông đựơc cử làm Chỉ huy trưởng trường Thiếu sinh quân Móng Cái kiêm làm trung gian giữa Văn phòng Quốc Trưởng Bảo Đại ở Hà Nội và Khu tự trị Nùng Ở Móng Cái để sát nhập Khu tự trị vào Hoàng triều Cương thổ.

Năm 1949, ông thôi chức Chỉ huy trưởng trường Thiếu sinh quân để đi thành lập Bảo chính đoàn Bắc Việt tại Hà Nội do Đại tá Hoàng Văn Tỷ làm Chỉ huy trưởng. Ông được mang cấp Trung tá Bảo chính đoàn (cấp bậc giả định) và được giữ chức Tham mưu trưởng kiêm Giám đốc trường Sĩ quan Bảo chính đoàn Nam Đồng, Hà Nội.
Quân đội Quốc gia

Đầu năm 1950, ông được cử làm Chánh võ phòng cho Quốc trưởng Bảo Đại, nhận lệnh thành lập Ngự lâm quân và được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Ngự lâm quân tân lập tại Đà Lạt. Sau đó ông chính thức gia nhập Quân đội Quốc gia với cấp bậc Đại úy.

Tháng 6 năm 1952, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử đi học khoá tham mưu tại trường Tham mưu Paris, Pháp. Đến đầu năm 1953, mãn khoá về nước ông được thăng cấp Trung tá và được bổ nhiệm làm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Ban Mê Thuột kiêm Tư lệnh Đệ tứ Quân khu Cao nguyên.

Tháng giêng năm 1954, tham gia Chiến Dịch Atlante ở Trung Việt gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định & Phú Yên. Tháng 6 cùng năm ông được thăng cấp Đại tá và chính thức nhậm chức Tư lệnh Đệ tứ Quân khu.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Đâu tháng 5 năm 1955, ông thừa lệnh Thủ tướng Diệm giải tán Ngự lâm quân, sau khi đã thuyết phục được Đại tá Nguyễn Tuyên (Chỉ huy trưởng Ngự lâm quân) để tránh đổ máu. Sau đó lực lượng này được sát nhập vào Quân đội Quốc gia.

Đầu năm 1956, bàn giao Đệ tứ Quân khu lại cho Đại tá Thái Quang Hoàng, đi du hành quan sát các nước Đông Á, Đông Nam Á và Úc, tìm hiểu về chiến lược phòng thủ vĩ tuyến.

Giữa năm 1957, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy & Tham mưu tại Kansas, Hoa Kỳ. Qua năm 1958, mãn khoá về nước giữ chức phó Tổng thư ký Bộ Quốc phòng, phụ tá Thiếu tướng Trần Văn Minh (Lục quân).

Năm 1963, sau khi tham gia cuộc đảo chính (1 tháng 11) chế độ gia đình trị họ Ngô, ngày 2 tháng 11 ông được thăng cấp Thiếu tướng giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Đặc trách Tiếp vận.

Đầu tháng 2 năm 1964, ông được bổ nhiệm chức Tư lệnh Sư đoàn 22 bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Thanh Sằng đi làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung. Tháng 9 cùng năm, bàn giao Sư đoàn 22 lại cho Đại tá Nguyễn Văn Hiếu (nguyên Tham mưu trưởng Quân đoàn I), để đi nhận chức Giám đốc Nha An ninh Quân đội thay thế Đại tá Nguyễn Ngọc Loan.

Trung tuần tháng giêng năm 1965, bàn giao Nha An ninh Quân đội lại cho Trung tá Trang Văn Chính. Sau đó tham chính giữ chức vụ Tổng trưởng Thông tin Tâm lý chiến và kiêm chức Uỷ viên thường vụ chính trị trong Hội đồng Quân lực. Cuối tháng 5 cùng năm, chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân.

Trung tuần tháng 4 năm 1966, bàn giao chức Tham mưu trưởng lại cho Thiếu tướng Bùi Hữu Nhơn (nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn) để trực tiếp giữ chức Bộ trưởng Nội vụ kiêm Đặc uỷ trưởng Phủ đặc uỷ Trung ương tình báo. Cuối tháng 10 năm 1967, ông được thăng cấp Trung tướng. Qua tháng 5 năm 1968, rời chức vụ Bộ trưởng Nội vụ để trở về phục vụ Quân đội.

Đầu năm 1969, ông được cử giữ chức Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa (Đồng Đế) thay thế Đại tá Lê Văn Nhật (sinh 1928 tại Hà Nam, tốt nghiệp trường Võ bị Địa phương Trung Việt-Đập Đá Huế). Đến đầu tháng 7 năm 1972, bàn giao Quân trường Đồng Đế lại cho Chuẩn tướng Võ Văn Cảnh (nguyên Chỉ huy trưởng Huấn Khu Lam Sơn-Dục Mỹ). Sau đó ông được cử đi Du hành Quan sát các Quân trường ở Hoa Kỳ.

Đầu năm 1973, về nước ông được cử làm Tổng Thanh tra 2 Quân đoàn III và Quân đoàn IV. Đến đầu tháng 3 cùng năm ông được giải ngũ với lý do đã phục vụ Quân đội trên 20 năm.

Tháng 5 năm 1974, ông được bổ nhiệm đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại nước Cộng hòa Trung Phi. Sang năm 1975 kiêm nhiệm thêm chức vụ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại nước Cộng hòa Tchad.
1975

Sau ngày 30 tháng 4, tại nước ngoài ông trở thành người sống lưu vong và từ châu Phi ông sang nước Pháp tạm cư tại Paris. Tháng 8 năm 1977, ông sang định cư tại Washington DC, Hoa Kỳ.

Ngày 17 tháng giêng năm 2013 ông từ trần tại Virginia, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 95 tuổi.
———————–
BÁCH KHOA TOÀN THƯ

Advertisements