Tr.Tướng Ngô Du

Ngô Du (1926 – ?) nguyên là một Tướng lĩnh của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, mang Quân hàm Trung tướng. Xuất thân từ trường Võ bị do Quân đội Pháp mở ra ở Huế. Khởi đầu binh nghiệp của ông là đơn vị Bộ binh, và ông thăng tiến theo thứ tự từ cấp Trung đội Trưởng, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng…… Sau cùng là Tư lệnh Quân đoàn & Vùng Chiến Thuật. Ông được thăng cấp cũng khá nhanh, lên tướng khi chưa tới tuổi 40.
Tiểu sử & gia đình   ngodu

Ông sinh vào tháng 1-1926 tại Bình Định. Đã tốt nghiệp Phổ thông Trung học.

Thân phụ: Cụ Ngô Khuông (là một Thương gia nổi tiếng, có nhiều cơ sở kinh doanh phát đạt, khởi đầu từ Quy Nhơn và phát triển rộng trên toàn miền Nam thời bấy giờ).
Nhạc phụ: Đại úy Võ Thân (Chỉ huy Trưởng Trường Hạ sĩ Quan An Cựu, Huế. Sau tử trận tại Phong Điền, Thừa Thiên năm 1951).
Binh nghiệp
Năm 1949: Ông nhập ngũ vào Quân đội Liên Hiệp Pháp mang số quân: 46/200.744. Theo học khoá 2 Quang Trung Trường Võ Bị Huế (Tiền thân của Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, khai giảng: 25/9/1949, mãn khoá: 24/6/1950). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy.
Quân đội Quốc gia

Năm 1950: Ra trường, nhận chức Trung đội trưởng trong đơn vị bộ binh.

Năm 1952: Thăng cấp Trung úy làm Đại đội trưởng đơn vị bộ binh.

Năm 1956: Ông được thăng cấp Đại úy giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn bộ binh.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Năm 1955: Sau khi Quân đội Quốc gia cải danh thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp lên Thiếu tá.

Năm 1957: Thăng cấp Trung tá làm Tham mưu Trưởng Sư đoàn 4 Dã Chiến (tiền thân của Sư đoàn 7 bộ binh sau này). Tháng 4 cùng năm ông giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn thay thế Đại tá Tôn Thất Xứng (sau là Thiếu tướng).

Năm 1958: Tháng 3, bàn giao Sư đoàn 4 lại cho Đại tá Trần Thiện Khiêm (sau mang quân hàm Đại tướng, chức vụ cuối cùng làm Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa). Cuối tháng 3 đi du học khoá Chỉ huy & Tham mưu tại Kansas, Hoa Kỳ. Sau đó về phục vụ trong Bộ Tổng Tham mưu.

Năm 1962: Cuối năm được bổ nhiệm đi làm Tham mưu Trưởng trong Bộ tư lệnh Quân đoàn II.

Năm 1963: Tháng 11 thăng cấp Đại tá. Tháng 12, bàn giao chức Tham mưu trưởng Quân đoàn II lại cho Trung tá Nguyễn Văn Hiếu (Sau là Thiếu tướng Tư lệnh phó Quân đoàn III, thượng tuấn tháng 4/75 bị tử nạn, được truy thăng Trung tướng) để đi nhận chức Trưởng phòng 1 Bộ Tổng Tham mưu thay thế Trung tá Đỗ Ngọc Nhận (sau là Đại tá Cục Trưởng Cục Quân Cụ, rồi Tổng cục Phó Tổng cục Quân Huấn).

Năm 1964: Đầu năm được cử giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh thay thế Thiếu tướng Tôn Thất Xứng được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I & Vùng 1 Chiến thuật. Tháng 5 cùng năm ông được vinh thăng Chuẩn tướng. Tháng 7, bàn giao Sư đoàn 2 lại cho Đại tá Nguyễn Thanh Sằng (nguyên Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung, sau giải ngũ ở cấp Thiếu tướng). Tháng 8 cùng năm ông được vinh thăng Thiếu tướng.

Từ năm 1965 đến 1969: Ông làm Phụ tá, rồi Tư lệnh phó Quân đoàn III & Vùng 3 chiến thuật.

Năm 1970: Tháng 5, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV & Vùng 4 chiến thuật thay thế Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh (bị tử nạn trực thăng khi đang bay thị sát mặt trận liên tỉnh Kiến Phong & Kiến Tường gần biên giới Việt-Miên, được truy thăng Trung tướng). Tháng 8 cùng năm, bàn giao Quân đoàn IV lại cho Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng. Đi nhận chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II & Vùng 2 chiến thuật thay thế Trung tướng Lữ Mộng Lan về Trung ương làm Tổng thanh tra Quân lực. Tháng 11 ông được vinh thăng Trung tướng.

Năm 1972: Tháng 3, Sau “Mùa hè đỏ lửa”, ông xin từ nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn II do cơn bệnh đau tim. Sau đó, bàn giao Bộ tư lệnh Quân đoàn lại cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn.

Năm 1973: Đầu năm làm Trưởng đoàn Quân sự 4 bên cấp Trung ương tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt cho đến tháng 3/1974 ông được giải ngũ.
1975

`Sau ngày 30-4-1975, cùng gia đình định cư ở Hoa Kỳ (Sacramento, California). Đã từ trần (nam 1977).
——————————
BÁCH KHOA TOÀN THƯ

Advertisements