Tr. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi

Nguyễn Vĩnh Nghi (sinh 1932) là một cựu tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Đầu tháng 4 năm 1975, ông là Tư lệnh Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn III & Quân khu 3, trách nhiệm phòng tuyến Phan Rang. Tuy nhiên, phòng tuyến nhanh chóng bị thất thủ, ông bị bắt làm tù binh và trở thành tướng lĩnh cao cấp nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị bắt làm tù binh trong Chiến tranh Việt Nam.
Thân thế và bước đầu binh nghiệp    nvnghi

Ông sinh vào tháng 10 năm 1932 tại tỉnh Gia Định trong một gia đình khá giả. Tốt nghiệp Trung học phổ thông chương trình Pháp.

Tháng 6 năm 1951, ông thi hành lệnh động viên của Quốc trưởng Bảo Đại, nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam và theo học khoá 5 Hoàng Diệu, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951 tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, thuộc Trung đội 12 khóa sinh do Trung úy Nguyễn Văn Thiệu làm Trung đội trưởng. Mối quan hệ này về sau có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp của ông.

Sau khi tốt nghiệp ngày 24 tháng 4 năm 1952 với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch, ông được bổ nhiệm giữ chức Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn Khinh quân Việt Nam. Tháng 8 năm 1953, ông được thăng cấp Trung úy lên làm Đại đội trưởng. Giữa năm 1954, ông được đặc cách thăng cấp Đại úy và được cử vào chức vụ Tiểu đoàn phó.

Đầu năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm thực hiện việc tái tổ chức quân đội. Ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 31 bộ binh tân lập (sau đổi thành Sư đoàn 7 bộ binh). Đầu tháng 6, ông về làm Trưởng phòng Hành quân Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Sau khi chuyển sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông vẫn tiếp tục phục vụ trên cương vị cũ. Năm 1960, ông được đề cử làm Chỉ huy phó trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Sau đó được cử đi du học lớp Chỉ huy & Tham mưu tại Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Mãn khoá trở về tái nhiệm chức vụ cũ.

Năm 1963, sau ngày đảo chính 1 tháng 11, ông được thăng cấp Trung tá, Xử lý Thường vụ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Võ bị trong một thời gian ngắn thay cho Chỉ huy trưởng là Đại tá Trần Ngọc Huyến bị gọi về trình diện Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Đầu tháng 1 năm 1964, khi Thiếu tướng Trần Tử Oai về nhậm chức Chỉ huy trưởng, ông trở lại chức vụ Chỉ huy phó, kiêm Tham mưu trưởng.

Tháng 2 năm 1966, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Khi Biến động Miền Trung nổ ra, ông là một trong những sĩ quan cao cấp được cử ra để nắm quyền chỉ huy quân đội, ổn định các đơn vị thuộc quyền trung thành với Chính phủ Trung ương, trên cương vị Tham mưu trưởng Quân đoàn I & Vùng I chiến thuật.

Đường binh nghiệp ông nhanh chóng mở rộng khi người bạn cũ Nguyễn Văn Thiệu nắm quyền Tổng thống. Giữa năm 1968, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 21 bộ binh. Tháng 6 cùng năm ông được thăng cấp Chuẩn tướng. Đến tháng 6 năm 1970, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đầu tháng 5 năm 1972, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân đoàn IV & Quân khu 4 thay Trung tướng Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm Tư lệnh Quân đoàn I. Đầu tháng 3 năm 1974, ông được thăng cấp Trung tướng.

Tuy nhiên, trong thời gian ở Quân đoàn IV, ông vướng nhiều các vụ tai tiếng tham nhũng, vì vậy tháng 11 năm 1974, ông buộc phải phải bàn giao chức Tư lệnh Quân đoàn IV lại cho Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, đổi đi nhậm chức Chỉ huy trưởng trường Bộ binh Thủ Đức
Phòng tuyến Phan Rang thất thủ

Cuối tháng 3 năm 1975, khi thế trận của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở phía Bắc lãnh thổ đã hoàn toàn tan vỡ, các đại đơn vị của Quân đoàn I và Quân đoàn II bị tan rã, ông được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm làm Tư lệnh phó Quân đoàn III kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn đặc trách phòng tuyến Phan Rang nhằm ngăn chặn đà tiến công của các lực lượng Cộng sản. Với lời hứa của Tổng thống Thiệu sẽ tăng cường binh lực và hỏa lực tối đa, ngay khi nhận chức, ông đã đặt Bộ Tư lệnh tại phi trường Thành Sơn, Phan Rang (căn cứ của Sư đoàn 6 không quân), cố gắng tổ chức các đơn vị trên địa bàn để chiến đấu. Ông xác định địa thế của Phan Rang có nhiều thuận lợi cho việc phòng thủ nên chủ trương chống giữ mặt Bắc và mặt Tây thị xã và phải giữ an toàn cho căn cứ không quân cũng như an ninh cho Thị xã. Theo chủ trương này, ông xây dựng một kế hoạch phòng thủ Phan Rang với một lực lượng cỡ 2 Sư đoàn gồm:

Ở mặt Bắc, trên tuyến Quốc lộ 1, hình thành các cứ điểm trấn giữ các điểm cao tại đèo Du Long với một dải chiến tuyến hùng hậu tại Du Long cùng các tuyến phụ tại Ba Râu và Ba Tháp để ngăn chặn mọi cuộc tấn công hướng vào thị xã hoặc vào căn cứ.
Ở mặt Tây, trên tuyến quốc lộ 11, án ngữ tại vùng Tân Mỹ, xây dựng một chiến tuyến để bảo vệ mặt tây và nam của sân bay.

Việc bảo đảm an ninh cho Thị xã và sân bay do các đơn vị chính quy phối hợp với quân địa phương phụ trách…

Tuy nhiên, trên thực tế, với lực lượng phòng thủ tại chỗ chỉ còn lại những đơn vị chắp vá và mất tinh thần, lực lượng tăng viện chỉ gồm 1 Lữ đoàn dù (Lữ đoàn 2), phòng tuyến Phan Rang hoàn toàn không đủ sức phòng thủ. Ngay cả nhiệm vụ bảo vệ căn cứ cũng gần như không thể thực hiện như theo lời Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân, thuật lại: “Căn cứ tôi bây giờ rất trống trải, vì một số lớn quân nhân địa phương canh gác ngoài vành đai đã bỏ nhiệm vụ… Ngoài Thị xã, Tỉnh trưởng đã rời nhiệm sở, dân chúng thì ngơ ngác phân vân. Trên quốc lộ 11 hướng về Sài Gòn, từng đoàn xe dân sự và quân sự chật nứt người rầm rộ tiếp nối nhau di tản. Tệ hại hơn nữa là Đà Lạt cũng bỏ chạy…”. Các đơn vị chủ lực hầu như mất hết sức chiến đấu với “Liên đoàn 31 Biệt động quân vừa rút khỏi Chơn Thành sau nhiều ngày tác chiến gian khổ với nhiều tổn thất, chưa kịp nghỉ dưỡng quân thì được tung ra tiền tuyến với quân số thiếu thốn trầm trọng. Sư đoàn 2 bộ binh vừa tháo chạy từ Quảng Ngãi vừa tập trung tại Bình Tuy và đang được bổ sung quân số thì cũng được ra lệnh phải ra Phan Rang trong khi cả đơn vị còn hoang mang, dao động vì chưa kịp bổ sung thiết bị”.[1]

Chuyện gì đến sẽ phải đến. Sau nhiều đợt tấn công trong đêm, vào lúc 7 giờ sáng ngày 16 tháng 4 năm 1975, các đơn vị đi đầu của Quân đội Nhân dân Việt Nam/Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắt đầu tấn công trong Thị xã. Đến 9 giờ sáng, căn cứ phi trường Thành Sơn bị tấn công.

“Đến khoảng 10g, khi tiếng súng càng lúc càng dồn dập, Tướng Nghi liền họp cùng Chuẩn tướng Nhựt, Đại tá Lương và tôi để duyệt xét tình hình. Khoảng đến 10g30 sáng, khi các toán Cộng quân sắp tiến vào Bộ Tư lệnh tiền phương thì Trung tướng Nghi mới ra lệnh rời căn cứ bằng đường bộ… Lúc 9g tối, dưới sự hướng dẫn của Đại tá Lương, đoàn người bắt đầu rời thôn Mỹ Đức. Chưa đi được bao xa thì bị phục kích. Trung tướng Nghi, ông Lewis[2] và tôi cùng một số quân nhân bị Cộng quân bắt”.
Đoạn cuối con đường

Sau khi ông và tướng Sang bị bắt, cả 2 ông nhanh chóng được đưa ra Hà Nội để khai thác. Ông được cho là đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị về hệ thống phòng thủ Sài Gòn.[3][4][5]

Sau năm 1975, ông bị chính quyền mới đưa đi giam giữ ở Suối Dầu, Khánh Hoà, rồi đưa ra giam ở Đà Nẵng, cuối cùng bị đưa ra cải tạo khổ sai ở Sơn Tây cho tới năm 1988 mới được trả tự do.

Năm 1992, ông xuất cảnh theo diện H.O do Chính phủ Mỹ bảo lãnh sang định cư tại Hoa Kỳ (không rõ nơi ông và gia đình định cư).
—————————-
BÁCH KHOA TOÀN THƯ

Advertisements