Tr.Tướng Trần Thanh Phong

Trần Thanh Phong (1926–1972), nguyên là Thiếu tướng Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Tử nạn được truy thăng Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia được mở ra ở miền Trung Việt Nam. Trong thời gian phục vụ trong Quân đội, ông được giao cho nhiều trọng trách ở những lĩnh vực khác nhau và ông đã làm tròn trách vụ của mình. Ông đã từng Tư lệnh các đơn vị Bộ binh thiện chiến của Quân lực, đứng đầu ngành An ninh Nội chính (Cảnh sát Quốc gia). Chức vụ cuối cùng: Chánh văn phòng thường trực Trung ương Đặc trách Chương trình Thị tứ của Thủ tướng Chính phủ. Cuối năm 1972 ông bị tử nạn máy bay Quân sự khi đang trên đường làm nhiệm vụ thanh sát các tỉnh thuộc Quân khu 2.
Tiểu sử & Binh nghiệpphong

Ông sinh ngày 19 tháng 1 năm 1926 tại Trà Vinh, miền tây Nam phần Việt Nam trong một gia đình điền chủ khá giả. Thời niên thiếu, ông được gia đình cho đi học ở Cần Thơ. Năm 1946, ông tốt nghiệp Trung học phổ thông chương trình Pháp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).
Quân đội Liên hiệp Pháp

Tháng 9 năm 1949, thi hành lệnh động viên của Quốc gia Việt Nam mới thành lập, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 46/103.156. Theo học khóa 2 Quang Trung tại trường Võ bị Quốc gia Huế,[4] khai giảng ngày 25 tháng 9 năm 1949. Ngày 24 tháng 6 năm 1950 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[5] Ra trường, ông được thuyên chuyển đến Liên đội 3 thuộc Trung đoàn 3 Vệ binh Nam Việt giữ chức vụ Trung đội trưởng.
Quân đội Quốc gia
Tháng 10 năm 1951, ông được cử làm Giám đốc Trung tâm Huấn luyện Trung đoàn 3. Đầu tháng 10 năm 1952, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Tháng 7 năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy chuyển đến phục vụ trong Bộ Tham mưu Đệ nhất Quân khu. Một nam sau, ông được cử đi du học khóa Tham mưu tại Pháp.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Đầu năm 1955, mãn khóa học về nước, ông được chuyển đến Phân khu Mỹ Tho giữ chức vụ Tham mưu trưởng. Tháng 8 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp Thiếu tá. Đầu năm 1956, ông được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Địa phương 154 kiêm quyền Phân khu trưởng Phân khu Mỹ Tho. Tháng 6 cùng năm, ông được cử làm Phó Phòng 2 Bộ Tổng tham mưu.

Tháng 2 năm 1957, ông chuyển đến Bộ Tư lệnh Quân khu 5 giữ chức vụ Tham mưu trưởng. Tháng 2 năm 1958, ông được đặt thuộc quyền sử dụng của Bộ Tư lệnh Quân đoàn I. Hai tháng sau, ông được điều đi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 Bộ binh. Tháng 8 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm, cùng ngày chuyển đến Sư đoàn Khinh chiến số 16.

Tháng 5 năm 1959, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh thay thế Trung tá Bùi Dinh. Đến tháng 8 năm 1961, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp ở Học viện Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ trong thời gian 6 tháng. Tháng 6 năm 1962, ông được chuyển đến Bộ Tư lệnh Quân đoàn I giữ chức vụ Tham mưu trưởng.

Sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11 năm 1963). Ngày 3 tháng 11, ông được đặc cách thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh. Tháng 2 năm 1964, ông được chuyển về Bộ Quốc phòng giữ chức vụ Trưởng phòng Quân huấn tại Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội. Tháng 10 cùng năm chuyển đến Quân khu 3, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh. Sau đó, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Tháng 7 năm 1965, nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 5 Bộ binh lại cho Đại tá Phạm Quốc Thuần, sau đó ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Trưởng phòng 3 kiêm Giám đốc Trung tâm Hành quân. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1966, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

Tháng 11 năm 1968, ông được cử làm Tham mưu trưởng Liên quân tại Bộ Tổng Tham mưu. Đến tháng 8 năm 1969, chuyển sang giữ chức Tổng Thanh tra Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau đó tham chính trong Nội các Chính phủ với chức vụ Tổng trưởng Xây dựng Nông thôn.

Tháng 11 năm 1971, ông được biệt phái sang Bộ Nội vụ giữ chức vụ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia. Đến tháng 9 cùng năm trở lại Quân đội. Tháng 5 năm 1972, ông được đặt trực thuộc Bộ Quốc phòng đặc trách Bình định & Phát triển Nông thôn. Tháng 10 cùng năm, chuyển sang làm Chánh Văn phòng Thường trực Trung ương Đặc trách Chương trình Thị tứ của Thủ tướng chính phủ.
Tử nạn

Ngày 1 tháng 12 năm, ông bị tử nạn máy bay Caribou C.47 sau khi đi thanh sát các tỉnh thuộc Quân khu 2, khi đang trên đường bay về Tuy Hòa, máy bay bị ngộ nạn 2 km về phía bắc Thị xã Tuy Hòa do thời tiết xấu vì mưa bão.[6]

Thi hài ông được đưa về quàn tại Toà Đô Chánh Gài Gòn. Ngày 5 tháng 12 năm 1972 Tổng thống và Phái đoàn Quân chính cao cấp hiện diện tại Tòa Đô chính cử hành lễ truy điệu, ông được Tổng thống Thiệu truy thăng cấp bậc Trung tướng và truy tặng Đệ nhị đẳng Bảo quốc Huân chương.

Tang lễ của ông được tổ chức theo lễ nghi quân cách. Quan tài được đặt trên Thiết quân vận M.113 danh dự, di chuyển đến an táng tại Nghĩa trang Đô thành Mạc Đỉnh Chi.
———————
BÁCH KHOA TOÀN THƯ

Advertisements