Tr.Tướng Trần Văn Minh

Trần Văn Minh (1932-1997) nguyên là tướng lĩnh Không quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Trung tướng. Xuâtys thân từ khoá đầu tiên sĩ quan trừ bị được Chính phủ Quốc gia mở ra ở Nam phần. Ông được xem là một trong các vị tướng trẻ và năng lực của Quân đội nói riêng, của nền Đệ Nhị Việt Nam Cộng hòa nói chung. Ông lên tướng lúc 35 tuổi vào năm 1967. Ông cũng là vị Tư lệnh Quân chủng Không Quân với thời gian lâu nhất (1967-1975). Ông còn có biệt danh là “Minh Đen” và còn được gọi là Trần Văn Minh “Không quân” để phân biệt với tướng Trần Văn Minh “Lục quân” (Thời kỳ này, trong Quân đội Vệt Nam Cộng hòa có 4 vị tướng tên Minh, mỗi người có một biệt danh: Dương Văn Minh là “Minh Lớn”, Nguyễn Văn Minh là “Minh Đờn” và 2 tướng Trần Văn Minh).
Tiểu sứ & Binh ngiệptranvanminh

Ông sinh ngày 21-7-1932 tại Bạc Liêu, miền tây Nam phần Việt Nam trong một gia đình điền chủ khá giả. Thân phụ là cụ Trần Văn Lầu. Thiếu thời ông là học sinh Trường Trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông tốt nghiệp Trung học với văn bằng Thành Chung. Sau đó ông trúng tuyển vào Trường Cao đẳng Công Chánh (1947-1950).

Cuối tháng 9 năm 1951, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/600.084. Theo học khoá 1 Lê Văn Duyệt (khai giảng ngày 1/10/1951, mãn khoá ngày 1/6/1952) tại Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức (Sau cải danh thành Liên trường Võ khoa Thủ Đức cuối cùng cải danh thành Trường Bộ binh Thủ Đức). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, phục vụ trong Binh chủng Pháo binh. Tháng 12 cùng năm, ông trúng tuyển vào Quân chủng Không quân, theo học khoá 2 Quan sát viên tại Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang.

Cùng theo học còn có các tân Thiếu úy:

Hoàng Ngọc Bào (khoá 4 Đà Lạt, sau là Đại tá Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Không quân)
Đỗ Trang Phúc (khoá 6 Đà Lạt, sau là Đại tá Chỉ huy trưởng căn cứ Không quân Phan Rang)

Đến giữa năm 1953, mãn khoá học Không quân, ông được lưu giữ lại trường làm Huấn luyện viên khoá 3 Quan sát viên (1953-1954). Qua năm 1954, ông được thăng cấp Trung úy và được cử đi du học lớp Điều hành viên tại Trường Võ bị Không quân Salon de Provence, căn cứ Không quân Avord, miền nam Pháp.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Tháng 2 năm 1956, ông được thăng cấp Đại úy và được chỉ định làm Giám đốc Trung tâm Kiểm soát Không chiến tân lập. Đến đầu năm 1958, ông được cử đi du học lớp Hoa tiêu Khu trục Phản lực T.37 tại Hoa Kỳ. Cùng năm, mãn khoá về nước ông được thăng cấp Thiếu tá.

Năm 1960, ông được tiếp tục đi du học khoá Chỉ huy & Tham mưu Không Quân tại căn cứ Không Quân Maxwell, Montgomery, Alabama, Hoa Kỳ. Về nước được cử làm Chỉ huy phó căn cứ 1 Trợ lực Không quân Nha Trang, sau đó Chỉ huy phó căn cứ 2 Trợ Lực Không quân Biên Hoà. Rồi Chỉ huy phó căn Cứ 4 Trợ lực Không quân Đà Nẵng kiêm Chỉ huy trưởng Phi đoàn Quan sát. Cùng năm ông được thăng cấp Trung tá giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm kiểm soát Không chiến.

Tháng 3 năm 1964, ông được bổ nhiệm làm Không đoàn trưởng Không đoàn 62 Chiến thuật tân lập tại Pleiku (Không đoàn 62 sau chuyển xuống Nha Trang). Sau đó ông chuyển sang làm Không đoàn trưởng Không đoàn 74 Chiến Thuật.

Năm 1965, ông được thăng cấp Đại tá, được cử làm Tư lệnh phó Quân chủng Không quân thay thế Đại tá Lê Trung Trực đi nhận chức Trưởng phòng 5 Bộ Tổng tham mưu.

Cuối tháng 10 năm 1967, ông nhận lệnh bàn giao chức Tư lệnh phó cho Đại tá Võ Xuân Lành. Đầu tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Không quân thay thế Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, đồng thời ông được vinh thăng hàm Chuẩn tướng. Qua tháng 6 năm 1968, được vinh thăng hàm Thiếu tướng, cuối năm này vinh thăng hàm Trung tướng.

Ông ở chức vụ Tư lệnh Không quân cho đến ngày 30/4/1975.

1975
Lưu vong

Sau ngày 30 tháng 4, ông di tản sang Mỹ và định cư tại Los Gatos, California.

Ngày 27 tháng 8 năm 1997 ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 65 tuổi.
————————–
BÁCH KHOA TOÀN THƯ

Advertisements