Tr.Tướng Vĩnh Lộc

Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc (1926[1]-2009), thường được gọi tắt là Vĩnh Lộc, là một cựu tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Trung tướng. Ông là vị Tổng Tham mưu trưởng cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đồng thời cũng là người có thời gian tại nhiệm ngắn nhất (chỉ tại chức trong ngày 29 tháng 4 năm 1975. Trước đó, ông có thời gian giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II & Vùng 2 chiến thuật (1965-1968), được mệnh danh là Chúa tể Cao nguyên, nhiều tai tiếng tham nhũng và có cuộc sống xa hoa như một Lãnh chúa thời phong kiến.
Thân thếvinhloc300

Theo bản văn cáo phó của gia đình thì ông sinh năm 1926 tại Huế trong một gia đình thuộc Hoàng phái nhà Nguyễn. Chữ Vĩnh trong tên của ông được đặt theo bài “Đế hệ thi” của vua Minh Mạng, cho thấy ông là anh em cùng hệ và ngang vai về với vua Duy Tân và vua Bảo Đại. Là một tín đồ Phật giáo, ông còn có pháp danh là Minh Tâm.

Thân phụ của ông là hoàng thân Bửu Hội, từng làm quan dưới triều vua Khải Định.[2] Thời niên thiếu, do điều kiện gia đình, ông được thụ hưởng một nền giáo dục cơ bản rất tốt. Từng theo học tại trường Trung học Khải Định,[2] ông được nhận xét là có học lực rất khá. Ngoài ra, ông rất thông thạo Pháp ngữ.
Binh nghiệp trong Quân đội Quốc gia Việt Nam

Tuy nhiên, việc học hành của ông bị gián đoạn một thời gian do thời cuộc chiến tranh. Mãi sau khi người Pháp tái chiếm Đông Dương, ông mới tiếp tục việc học và tốt nghiệp chương trình Trung học, đậu bằng Tú tài Pháp.

Sau khi Cựu hoàng Bảo Đại về nước và thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam, năm 1949, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, được cử vào học khóa sĩ quan tại trường sĩ quan An Cựu, Huế (École des Cadres de An Cuu),[2] tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Sau khi ra trường, tháng 9 năm 1950, ông được cử sang Pháp thụ huấn tại trường Thiết giáp binh Saumur.[2] Cùng học với ông khóa này có một Trung úy trẻ người Việt tên Lâm Văn Phát.

Tháng 8 năm 1951, ông về nước, ban đầu được cử làm Trưởng phòng Liên lạc Việt-Pháp thuộc Việt binh đoàn ở Huế, sau đó được điều động làm sĩ quan cận vệ cho Quốc trưởng Bảo Đại. Năm 1952, ông được thăng cấp Trung úy và chuyển ngạch sang phục vụ trong Quân đội Quốc gia Việt Nam, được điều động làm Trung đội trưởng thuộc Đại đội 1 Thám thính đồn trú tại Cần Thơ. Tháng 8 năm đó, ông được chuyển sang làm Đại đội trưởng Đại đội 3 Thám thính đồn trú tại Gia Lâm, thay thế người bạn đồng học cũ là Đại úy Lâm Văn Phát. Năm 1953, ông được đặc cách thăng Đại úy tại mặt trận.
Lận đận trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Sau khi Hiệp định Genève, 1954 được ký kết, tháng 11 năm 1954, ông được thăng cấp Thiếu tá, được cử là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Kỵ binh,[2] chỉ huy đơn vị di chuyển vào Nam.

Mặc dù là người hoàng tộc, từng là sĩ quan cận vệ cho Quốc trưởng Bảo Đại, nhưng ông đứng ngoài cuộc tranh giành quyền lực giữa lực lượng ủng hộ Quốc trưởng và Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Tháng 6 năm 1955, ông được điều động khỏi chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Kỵ binh để đi du học khóa Chỉ huy & Tham mưu tại Fort Laevenworth, Hoa Kỳ.[2]

Sau khi về nước tháng 6 năm 1956, ông vẫn tiếp tục phục vụ trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Mặc dù vậy, ông vẫn gặp nhiều nghi kỵ từ phía Tổng thống Ngô Đình Diệm do mối liên hệ hoàng tộc. Vì vậy, ông được bổ nhiệm công tác phục vụ tại Trường Đại học Quân sự, một chức vụ không có thực quyền.

Trong những năm sau đó, đường hoạn lộ ông khá chậm chạp. Năm 1959, được thăng cấp Trung tá, nhận chức Chỉ huy trưởng Trường Thiết giáp tại Liên trường Võ khoa Thủ Đức. Năm 1961, được cử giữ chức Tham mưu trưởng Liên trường Võ khoa. Đầu năm 1962, Chỉ huy phó Liên trường Võ khoa. Đến tháng 2 cùng năm, trở thành Chỉ huy trưởng đầu tiên của Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Vạn Kiếp ở Bà Rịa.
Thăng tiến trong mùa đảo chính

Do bất mãn bị kỳ thị, qua sự tác động của Đại tá Đỗ Mậu, ông sớm ngả về các tướng lĩnh âm mưu đảo chính lật đổ Tổng thống Diệm. Từ đầu tháng 10 năm 1963, tư cách Chỉ huy trưởng Trung tâm Vạn Kiếp, ông đã cho thành lập một đơn vị cấp tiểu đoàn, gồm các sĩ quan huấn luyện và các học viên có kinh nghiệm, luôn ở trạng thái sẵn sàng đợi lệnh hành quân đột xuất.[3]

Ngay sau khi cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 nổ ra, ông chỉ huy đoàn xe thiết giáp của Trung tâm Vạn Kiếp từ Bà Rịa tiến vào Sài Gòn qua hướng cầu Phan Thanh Giản (nay là cầu Điện Biên Phủ), hỗ trợ quân đảo chính giữ Đài phát thanh. Chiều ngày 2 tháng 11, ông chỉ huy Chiến đoàn Vạn Kiếp, một lực lượng hỗn hợp gồm tiểu đoàn học viên của Trung tâm Vạn Kiếp, Tiểu đoàn 6 Nhảy dù và Chi đoàn 1 Thiết giáp thuộc Thiết đoàn 1 Kỵ binh, hỗ trợ quân đảo chính đánh chiếm thành Cộng Hòa.[3]

Nhờ công lao này, ngay tối ngày 2 tháng 11 năm 1963, ông được các tướng lĩnh chỉ huy đảo chính thăng lên cấp Đại tá, bổ nhiệm vào chức vụ Tham mưu phó Liên quân tại Bộ Tổng tham mưu. Không đầy 1 tháng sau, ông được Hội đồng Quân nhân Cách mạng chỉ định vào chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Thiết giáp Trung ương. Đường công danh của ông rạng rỡ từ đây.

Sau khi tướng Nguyễn Khánh tiến hành cuộc chỉnh lý tước quyền các tướng lĩnh cầm đầu Hội đồng Quân nhân Cách mạng, tháng 2 năm 1964, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh[2], kiêm Tư lệnh Biệt khu 41, bao gồm các tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Kiến Phong (Đồng Tháp). Nhằm tranh thủ sự ủng hộ từ phía ông, ngày 11 tháng 8 năm 1964, tướng Khánh đã thăng cấp cho ông và 7 đại tá khác lên cấp bậc Chuẩn tướng vừa được đặt ra.

Với việc thăng lên cấp bậc tướng, ông trở thành một thành viên của Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Mặc dù Hội đồng Quân nhân Cách mạng đã tuyên bố chấm dứt hoạt động chỉ 2 tháng sau đó, nhưng trên thực tế các tướng lĩnh tập hợp một cơ chế lãnh đạo chính trị riêng, từ đó hình thành Hội đồng Quân lực. Với cơ chế này, ông cùng các tướng trẻ khác được mệnh danh là “nhóm tướng trẻ” (Young Turks),[2] từng bước thâu tóm quyền lực mà đỉnh điểm là việc phế truất tướng Nguyễn Khánh và ép tướng Khánh phải lưu vong.

Cuối tháng 5 năm 1965, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Khi chính phủ do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương ra đời, ngày 25 tháng 6 năm 1965, ông được cử đi làm Tư lệnh Quân đoàn II & Vùng 2 Chiến thuật. Ngày 19 tháng 11 năm 1965, ông được thăng cấp Thiếu tướng; đến tháng 10 năm 1966, được thăng Trung tướng tại nhiệm.[2
Biến động Cao nguyên

Ngay khi vừa nhận chức Tư lệnh Quân đoàn II & Vùng 2 Chiến thuật, tướng Vĩnh Lộc đương đầu ngay với vụ nổi dậy của các thành viên vũ trang của FULRO, khởi đầu từ các binh sĩ thuộc lực lượng Dân sự chiến đấu (Civilian Irregular Defense Group – CIDG) ở trại Sarpa ở buôn Daksak, thuộc quận Đức Lập, tỉnh Quảng Đức, lan ra tận các tỉnh Darlac và Pleiku. Ngày 29 tháng 7 năm 1965, 200 lính FULRO đã vượt biên giới tấn công đánh chiếm đồn Buôn Briêng. Một nhóm khác chiếm đóng Buôn Buor (Đarlac) và khống chế một cây cầu trên quốc lộ 14. Ngay lập tức, ông ra lệnh cho Sư đoàn 23 và một số Tiểu đoàn Biệt Động Quân cùng Thiết giáp hành quân giải tỏa. Ngày 2 tháng 8 năm 1965, lực lượng FULRO tại đồn Buôn Briêng rút lui và đem theo 181 binh lính Dân sự Chiến đấu người Thượng. Ngày 15 tháng 9 năm 1965, 500 lính FULRO chiếm giữ Buôn Buor ra hàng.

Từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 12 năm 1965, lực lượng FULRO lại tấn công đồn Phú Thiện sát hại 32 người và làm bị thương 26 người khác; chiếm đồn Krong Pách, giết hết binh sĩ người Kinh; đột nhập tòa hành chính và Tiểu khu Quảng Đức, giết hết người Kinh, treo cờ FULRO. Với binh lực trong tay, tướng Vĩnh Lộc hoàn toàn có thể trấn áp quân bạo loạn. Tuy nhiên, do sự can thiệp của Đại sứ quán Mỹ, các nhóm vũ trang của FULRO do đó luôn có thể đưa ra yêu sách ngừng bắn khi hết đạn và rút qua biên giới sang Campuchia. Vì vậy, tướng Vĩnh Lộc một mặt vẫn cho thực hiện các cuộc hành quân trấn áp, mặt khác qua các cuộc tiếp xúc với đại diện FULRO, lắng nghe những đòi hỏi của họ, và hứa sẽ nhượng bộ một số yêu cầu.

Từ giữa năm 1965, các hoạt động chính trị và quân sự của FULRO không còn là tâm điểm chú ý của tướng Vĩnh Lộc khi mà ông phải đối mặt với một đối thủ mạnh hơn nhiều: Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Sự kiện Mậu Thân 1968

Năm 1968: Ông bị cách chức và bàn giao Bộ tư lệnh Quân đoàn II lại cho Thiếu tướng Lữ Mộng Lan,[4] (kết quả của sự thất bại của ông trong Tết Mậu Thân. Sự kiện tết Mậu Thân (1968), ông đã ra lệnh cho chỉ huy các đơn vị không được rời nhiệm sở để đề phòng bất trắc nhưng ông vẫn bất chấp ngang nhiên bay về Sài Gòn ăn tết. Vì Vậy Pleiku cũng như nhiều đô thị khác, cũng bị quân Giải phóng tấn công. Sau khi ăn tết xong, ông vẫn không chịu về nhiệm sở mà về tư dinh của mình).
Vị tướng không quân

Vì vậy ông bị triệu hồi về Bộ Tổng tham mưu làm Phụ tá Tổng tham mưu trưởng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn.

Năm 1969: Được cử làm Chỉ huy trưởng Trường Cao đẳng Quốc phòng.

Đến năm 1973, Ông lại bị Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tước sạch mọi chức vụ vì lý do, trong một chuyến công du Thổ Nhĩ Kỳ, ông đã tự ý bay sang Pháp để liên lạc với cựu hoàng Bảo Đại.
Tổng tham mưu trưởng cuối cùng

Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, ông lại được tân Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định làm Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Nhậm chức, ông đã lớn tiếng hô hào quân sĩ sát cánh tử thủ đến cùng. Nhưng chỉ chưa đầy một ngày, sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông đã vội tháo bỏ hết quân phục, xuống bến Bạch Đằng lên một chiến hạm nhỏ lưu vong ra nước ngoài.[5]
Cuộc sống lưu vong

Sau khi lưu vong, ông cùng gia đình đã đến định cư tại Houston, Texas, Hoa Kỳ.

Ngày 8 tháng 1 năm 2009, ông từ trần tại nơi định cư, hưởng thọ 84 tuổi.
————————–
BÁCH KHOA TOÀN THƯ

Advertisements