Trường ĐHCTCT

Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt thoát thai từ Trường Quân Báo-Tâm Lý Chiến Cây Mai (1956). Sau vì nhu cầu Cán Bộ Chiến Tranh Tâm Lý mỗi ngày một gia tăng nên Trường Quân Báo Cây Mai được tách rời để trở thành Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị trực thuộc Nha Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Quốc Phòng.Trụ sở đầu tiên cuả Trung Tâm này toạ lạc tại số 15 đường Lê Thánh Tôn SàiGòn với khoá huấn luyện cao cấp nhất cuả nghành CTTL là Khoá 1 Tham Mưu CTTL gồm hơn 100 Học Viên từ cấp Đại Úy đến Đại Tá. Sau đó từ trung tuần tháng 10/1964, Trung Tâm Huấn Luyện CTTL được dời về Trại Lê Văn Duyệt và cải biến thành một Quân Trường mang tên Trường Chiến Tranh Chính Trị trực thuộc Cục Chính Huấn,trong hệ thống Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.

Theo đà phát triễn của Quân Lực VNCH, đòi hỏi một tầng lớp Cán Bộ có trình độ văn hoá cấp Đại Học để cung ứng cho ngành CTCT và các quân binh chủng, trường CTCT đã được biến cải thành Đại Học Chiến Tranh Chính Trị theo sắc lệnh số 48/SL/QP ngày 18/3/1966.

Đầu tiên trường ĐH/CTCT toạ lạc tại số 78 đường Võ Tánh- Đà Lạt ( cơ sở cũ cuả Trung Tâm huấn luyện Hiến Binh Quốc Gia ). Đến đầu năm 1973, Trường được cải biến thành 2 Cơ Sở: cơ sở cũ dành huấn luyện Sĩ Quan Khoá Sinh CTCT các cấp từ các đơn vị về thụ huấn. Cơ sở mới nằm trong Khu Chi Lăng ( Trường Chỉ Huy Tham Mưu cũ) dành huấn luyện SVSQ các Khoá Hiện Dịch.

1 A A A CTCT Quân phục đại lễ

Trường ĐH/CTCT đã được Chỉ Huy lần lượt bởi hai vị Sĩ Quan cao cấp : Hải Quân Đại Tá Lâm Ngươn Tánh từ năm 1966 đến 1971 và kế tiếp là Đại Tá Nguyễn Quốc Quỳnh từ năm 1971 đến 30/04/1975.

Tính đến ngày 30-4-1975, Trường ĐH/CTCT Đà Lạt đã huấn luyện được trên dưới 40 Khoá CTCT các cấp : Căn Bản, Trung Cấp, và Cao Cấp dành cho các Sĩ Quan CTCT từ cấp Chuẩn Úy đến Đại Tá thuộc hầu hết các đơn vị,quân binh chủng QL/VNVH. Ngoài ra còn có những Khoá huấn luyện đặc biệt cho những Sĩ Quan Khmer và Mã Lai Á.

Riêng về các Khoá SVSQ, Trường đã đào tạo được 6 Khoá SVSQ Hiện Dịch. Đối tượng để được thu nhận là các thanh niên có tối thiểu Tú Tài 2, đầy đủ sức khoẻ và phải qua một kỳ thi tuyển. Chương trình huấn luyện là hai năm, mỗi năm chia làm hai mùa :mùa Văn Hoá (bao gồm CTCT) và mùa Quân Sự (thụ huấn tại Trường Võ Bị Quốc Gia). … Đặc biệt, chương trình Văn Hoá , trình độ Đại Học ,do các Giáo Sư Đại Học giảng dạy. Sau khi tốt nghiệp, các Cựu SVSQ có thể ghi danh theo học tiếp chương trình năm thứ 3 tại một số Đại Học Dân Sự
———————–
Sơ Lược về Lịch Sử Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Chủ nhật, 21 Tháng 11 2010 16:55 Đặc San ức Trai / Văn Khố Ức Trai
In PDF.

Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt thoát thai từ Trường Quân Báo-Tâm Lý Chiến Cây Mai (1956). Sau vì nhu cầu Cán Bộ Chiến Tranh Tâm Lý mỗi ngày một gia tăng nên Trường Quân Báo Cây Mai được tách rời để trở thành Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị trực thuộc Nha Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Quốc Phòng.Trụ sở đầu tiên cuả Trung Tâm này toạ lạc tại số 15 đường Lê Thánh Tôn SàiGòn với khoá huấn luyện cao cấp nhất cuả nghành CTTL là Khoá 1 Tham Mưu CTTL gồm hơn 100 Học Viên từ cấp Đại Úy đến Đại Tá. Sau đó từ trung tuần tháng 10/1964, Trung Tâm Huấn Luyện CTTL được dời về Trại Lê Văn Duyệt và cải biến thành một Quân Trường mang tên Trường Chiến Tranh Chính Trị trực thuộc Cục Chính Huấn,trong hệ thống Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.

truongdaihocctct

Theo đà phát triễn của Quân Lực VNCH, đòi hỏi một tầng lớp Cán Bộ có trình độ văn hoá cấp Đại Học để cung ứng cho ngành CTCT và các quân binh chủng, trường CTCT đã được biến cải thành Đại Học Chiến Tranh Chính Trị theo sắc lệnh số 18/SL/QP ngày 18/3/1966.

Đầu tiên trường ĐH/CTCT toạ lạc tại số 78 đường Võ Tánh- Đà Lạt ( cơ sở cũ cuả Trung Tâm huấn luyện Hiến Binh Quốc Gia ). Đến đầu năm 1973, Trường được cải biến thành 2 Cơ Sở: cơ sở cũ đành huấn luyện Sĩ Quan Khoá Sinh CTCT các cấp từ các đơn vị về thụ huấn. Cơ sở mới nằm trong Khu Chi Lăng ( Trường Chỉ Huy Tham Mưu cũ) dành huấn luyện SVSQ các Khoá Hiện Dịch.

Trường ĐH/CTCT đã được Chỉ Huy lần lượt bởi hai vị Sĩ Quan cao cấp : Hải Quân Đại Tá Lâm Ngươn Tánh từ năm 1966 đến 1971 và kế tiếp là Đại Tá Nguyễn Quốc Quỳnh từ năm 1971 đến 30/04/1975.

Tính đến ngày 30-4-1975, Trường ĐH/CTCT Đà Lạt đã huấn luyện được trên dưới 40 Khoá CTCT các cấp : Căn Bản, Trung Cấp, và Cao Cấp dành cho các Sĩ Quan CTCT từ cấp Chuẩn Úy đến Đại Tá thuộc hầu hết các đơn vị,quân binh chủng QL/VNVH. Ngoài ra còn có những Khoá huấn luyện đặc biệt cho những Sĩ Quan Khmer và Mã Lai Á.

Riêng về các Khoá SVSQ, Trường đã đào tạo được 6 Khoá SVSQ Hiện Dịch. Đối tượng để được thu nhận là các thanh niên có tối thiểu Tú Tài 2, đầy đủ sức khoẻ và phải qua một kỳ thi tuyển. Ngoài ra, Trường ĐH/CTCT còn tiếp nhận các SVSQ Thủ Đức, Đồng Đế,Thiếu Sinh Quân, Hạ Sĩ Quan có đủ điều kiện văn bằng. Chương trình huấn luyện là hai năm, mỗi năm chia làm hai mùa :mùa Văn Hoá (bao gồm CTCT) và mùa Quân Sự (thụ huấn tại Trường Võ Bị Quốc Gia). Ngoài ra SVSQ còn được huấn luyện võ thuật, sinh hoạt văn nghệ , báo chí, và đặc biệt còn có dịp đi thực tập công tác CTCT tại các đơn vị của QL/VNCH… Đặc biệt, chương trình Văn Hoá , trình độ Đại Học ,do các Giáo Sư Đại Học giảng dạy. Sau khi tốt nghiệp, các Cựu SVSQ có thể ghi danh theo học tiếp chương trình năm thứ 3 tại một số Đại Học Dân Sự

Sau đây là tiểu sử sơ lược các Khoá SVSQ hiện dịch cuả Trường:

*KHOÁ 1 :

– Nhập ngũ : tháng 12/1966 ; Chính thức nhập Trường tháng 5/1967; sĩ số 178
– Ngày mãn Khoá : 2-5-1969 ; sỉ số 168
– Từ trần : 40
– Thủ Khoa : Huỳnh Bé Em
– Đẩy lui cuộc tấn công Trường cuả VC vào khoảng tháng 5/1968. Hai SVSQ Huỳnh Bé Em và Quách Dược Thanh được tưởng thưởng Anh Dũng Bội Tinh.
– Tham gia chiến dịch Diên Hồng cuối năm 1968.

*KHOÁ 2 :

– Chính thức nhập Trường 3-10-1968 ; sỉ số : 397
– Ngày mãn khoá :19-2-1971 ; sỉ số :386.
– Từ trần : 97
– Thủ khoa : Hồ Ngân
– Đẩy lui cuộc tấn công Trường đêm 31-3-1970 cuả VC,trong biến cố này có khoảng 40 vị Tuyên Úy Phật Giáo, Công Giáo, và Tin Lành cùng 5 SVSQ bị sát hại. Một số SVSQ được tưởng thưởng huy chương.
– Xuất sắc về Văn Nghệ và Thể Thao. Nổi tiếng tại Đà-Lạt và Quân Khu 2

*KHOÁ 3 :

– Chính thức nhập Trường tháng 4/1970; sĩ số : 165
– Ngày mãn khoá :21-4-1973 ; sỉ số : 159
– Thủ khoa : Triệu Duy Toản
– Từ trần : 19
– Tham gia công tác Dân Vận chuẩn bị ký kết hiệp định Paris 1973 tại Tiểu Khu Quảng Ngãi trong vòng 3 tháng.
*KHOÁ 4 :
– Chính thức nhập Trường 18-12-1972; sĩ số 210
– Ngày mãn khoá : 22-4-1975 ; sỉ số 199
– Thủ khoa ; La Văn Thẩm.
– Từ trần ; 26
– Tham gia công tác Dân Vận thi hành Hiệp Định Paris 1973 tại Tiểu Khu Quảng Ngãi trong 2 tháng.
– Tham gia Chiến Dịch Cải Tiến và Kiện Toàn an ninh lãnh thổ Quân Khu 4 trong 5 tháng
– Thành tích :

* Tập thể: Bộ TTM trao tặng 2 giây biểu chương màu Anh Dũng Bội Tinh và Quân Công Bội Tinh cho Quân Kỳ Trường ĐH.CTCT do thành quả công tác tại Quân Khu 4.
* Cá nhân : Hai Anh Dũng Bội Tinh cho các SVSQ Bùi Công Thành, Nông Văn Vượng và SVSQ Vũ Đình Kiên; cùng một số Chiến Thương Bội Tinh, bằng Tưởng Lục và giấy khen các cấp.
*KHOÁ 5 :
– Chính thức nhập trường tháng 2/1974 ; sĩ số 161.
– Còn đang thụ huấn tại Trường.
– Từ trần : 7
*KHOÁ 6 :
– Chính thức nhập trường 17-1-1975 ; sĩ số : 129
– Gắn Alpha ngày 1-3-1975
– Còn đang thụ huấn tại Trường
– Từ trần ; 01 (trong tù)
(Trích Đặc San Ức Trai do Nhiệm Kỳ 1 ấn hành năm 1985 và đã được cập nhật bởi Nhiệm Kỳ 15)


C3. Chiến Tranh Chính Trị Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Giai đoạn từ 1949 đến 1955 – Quân đội Quốc gia Việt Nam
Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1949 để đánh lại quân Việt Minh do Cộng sản chỉ huy. Sơ khởi có 150000 quân nhân dưới sự chỉ huy của sĩ quan Pháp và trang bị cổ lổ. Dù Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử chiến đấu với Trung Hoa để sống còn, người ta vẫn coi binh nghiệp là thấp kém nhất trong các giai tầng xã hội (Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh). Những người lính trong quân đội Quốc gia không ưa Pháp, cũng chẳng ưa Quốc trưởng bù nhìn Bảo Ðại. Trong thời này, hoạt động tâm lý chiến độc nhất là “Tác Ðộng Tinh Thần” do phòng 5 đảm trách.

Giai đoạn từ 1955 đến 1965 – Quân Ðội Việt Nam Cộng Hoà.
Năm 1955, ông Ngô Ðình Diệm truất phế Bảo Ðại qua một cuộc trưng cầu dân ý và thiết lập nền Cộng Hoà Việt Nam. Quân đội Quốc gia VN được cải biến và đổi tên là Quân đội Việt Nam Cộng hoà. Khi người Pháp rút đi, đội quân Cộng hoà này chỉ có 4 sư đoàn được huấn luyện không đồng bộ, chỉ huy bởi một nhóm nhỏ gồm sĩ quan và hạ sĩ quan thiếu kinh nghiệm. Người Mỹ đã đảm nhận việc huấn luyện và viện trợ rộng rãi để quân đội VNCH theo khuôn mẫu quân đội Hoa Kỳ.
Khi còn theo khuôn mẫu quân đội Pháp, phòng 5 là cơ quan duy nhất lo về chiến tranh tâm lý. Năm 1954, Trung tá Mỹ Edward Lansdale, người nổi tiếng nhờ những thành công của ông chống lại ‘chiến tranh nhân dân’ tại Philippines, được Việt Nam Cộng Hoà mời làm cố vấn chính thức. Lansdale định nghĩa dân vận là: “cách hành xử trong tình anh em của những quân nhân trên các mặt trận, mà Mao Trạch Ðông và Võ Nguyên Giáp đã dạy cho binh sĩ của họ.” Ông cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xây dựng một căn bản chính trị làm nền tảng cho các hoạt động khác. Lansdale đề nghị thêm những nỗ lực đặc biệt từ quân đội Mỹ và Việt Nam trong lãnh vực tâm lý chiến ngõ hầu chiến thắng Cộng sản. Sau này ông trở thành cố vấn và là bạn của Tổng thống Diệm. Theo đề nghị của ông, Nha Chiến Tranh Tâm Lý đã được thành lập, trực thuộc Bộ Quốc Phòng.
Bộ Tổng tham mưu là cơ quan chỉ huy cao nhất của quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Tại mỗi cấp của quân đội, từ trên xuống, có phòng 5, ban 5 chuyên lo hoạt động chiến tranh tâm lý. Nhưng các hoạt động này chỉ giới hạn trong việc truyền thanh, ấn loát, chiếu bóng, và trình diễn văn nghệ. Các cán bộ tâm lý chiến thường được chọn từ những sĩ quan bị thất sũng và thiếu năng lực theo cách nhìn của các cấp chỉ huy.

Giai đoạn từ 1965 đến 1975 – Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Từ 1965, quân đội được cải tổ lại. Bộ Tổng tham mưu vẫn có 5 cơ quan trực thuộc; mỗi cơ quan đặt dưới quyền của một Tổng tham mưu phó: Hành quân, Nhân viên, Tiếp vận, Huấn luyện, và Chiến tranh Chính trị. Ba cơ quan sau được tổ chức thành 3 tổng cục với các cục trực thuộc (xem sơ đồ)
Dựa trên khái niệm Chiến tranh Chính trị bao gồm 6 hình thái chiến tranh: Tư tưởng chiến, Tổ chức chiến, Tâm lý chiến, Tình báo chiến, Mưu lược chiến và Quần chúng chiến; Tổng cục CTCT được tổ chức thành 5 cục và một trường Ðại học CTCT với chức năng như sau:
1.- Cục Chính huấn để tác động tinh thần và khơi dậy lòng yêu nước của binh sĩ. Cục có một trung tâm huấn luyện cán bộ CTCT và hàng chục toán Công tác Chính huấn giáo dục binh sĩ qua các chương trình sinh hoạt vừa học tập vừa văn nghệ gọn nhẹ.
2.- Cục Tâm lý chiến đảm trách tuyên truyền hướng về địch và công tác dân vận. Ngoài ra còn những công tác bao gồm báo chi, giải trí cho quân nhân. Cục có một Biệt đoàn Văn nghệ Trung ương hùng hậu với hàng trăm nghệ sĩ nổi tiếng đang động viên trong quân ngũ.
3.- Cục Xã hội trách nhiệm săn sóc gia đình binh sĩ qua vấn đề gia cư, trường học, và y tế. Cục có một trường Nữ trợ tá Xã hội đào tạo sĩ quan và hạ sĩ quan. Tại các khu gia binh, các nữ sĩ quan xã hội chăm lo đời sống gia đình binh sĩ. Họ cũng thăm viếng ủy lạo thương bệnh binh tại các quân y viện và chăm lo gia đình tử sĩ. Cục Xã hội quản lý các nha Tuyên úy Công giáo, Phật giáo và Tin lành.
4.- Cục An ninh Quân đội lo phần phản gián và an ninh nội bộ các đơn vị. Dù trực thuộc tổng cục CTCT, cục ANQÐ hoạt động độc lập và là cơ quan có quyền lực nhất trong quân đội. Cục có nhiệm vụ ngăn ngừa sự xâm nhập của địch vào hàng ngũ mình. Tuy nhiên thành quả của cục chỉ đạt được một mức độ hạn chế.
5.- Cục Quân tiếp vụ cung cấp cho quân nhân hàng hoá nhu yếu miễn thuế. Tuỳ theo gia cảnh, mỗi quân nhân hàng tháng mua số lượng thuốc lá, sữa, đường, vật dụng gia đình, vân vân với giá thường chỉ bằng 30 đến 50% giá thị trường.
6.- Trường Ðại học Chiến tranh Chính trị, thành lập năm 1966 khi các cấp lãnh đạo nhận thức sự cấp bách phải đào tạo một lớp sĩ quan trẻ để đảm trách hữu hiệu các hoạt động CTCT tại các đơn vị. Trước đó đã có Trung tâm Huấn luyện Cán bộCTCT đào tạo cán bộ từ các quân nhân tại ngũ.

Trường ÐH/CTCT tuyển thanh niên có bằng Tú tài qua một kỳ thi tuyển. Những thanh niên này phải qua một chương trình huấn luyện 2 năm để trỏ thành Thiếu úy hiện dịch trong quân lực. Chương trình học nhấn mạnh về khoa học xã hội và chính trị. Sinh viên theo học quân sự hàng năm tại trường Võ bị Quốc gia Việt Nam để có thể trở thành một trung đội trưởng bộ binh và ít nhiều về chiến thuật cấp đại đội. Họ nghiên cứu học thuyết Mác xít, chủ nghĩa Cộng sản, lịch sử chiến tranh cận đại và các kỹ thuật CTCT.

Sau khi tốt nghiệp, các tân sĩ quan được bổ nhiệm làm đại đội phó các đơn vị chiến đãu, hay trưởng ban CTCT tại các chi khu. Khoá đầu tiên tốt nghiệp vào tháng 5 năm 1969, theo sau là 5 khóa nữa cho đến ngày thất thủ năm 1975. Trường đào tạo khoảng 200 sĩ quan mỗi khoá. Ngoài ra trường còn cung cấp các chương trình căn bản, trung cấp, cao cấp cho các sĩ quan đang làm công tác CTCT.

D.- Các Thuận Lợi Và Bất Thuận Lợi
D1.- Thuận Lợi
Ngành CTCT của Quân lực VNCH được tái tổ chức nhờ sự giúp đỡ và cố vấn của Quân đội Trung Hoa Dân quốc. Sau lần thất bại năm 1949, họ đã học bài học cay đắng trong việc đối phó với Cộng sản, và họ rất sốt sắng truyền lại kinh nghiệm cho Việt Nam, một đồng minh thân cận nhất. Cũng nhờ có chương trình Chiêu hồi, quân đội VNCH đã học thêm nhiều từ các hồi chánh viên mà nhiều người từng là cán bộ tình báo và chính trị cao cấp trong quân đội Cộng sản.

Có nhiều thành tựu đáng kể từ khi thành lập Tổng cục CTCT. Các đơn vị Ðịa phương quân và Nghĩa quân trở nên hữu hiệu hơn trong các chiến dịch bình định nhằm quét sạch hạ tầng cơ sở cuả Cộng sản. Trước khi tham dự Hoà đàm Paris năm 1968, các sinh viên sĩ quan khoá 1 được gửi đội hoạt động tại các chi khu để củng cố tinh thần binh sĩ và hậu thuẫn cho lập trường của chính phủ.
Các đơn vị bộ binh, rãnh tay trong công tác lãnh thổ, đã tham dự vaò các chiến dịch tấn công lớn với sự yểm trợ của Không quân Mỹ. Sư đoàn 5 Bộ binh là một thí dụ. Từ một đơn vị yếu kém nhất, sau chiến dịch Chân trời mới khởi sự năm 1968, đã trở thành đơn vị giỏi thứ hai trong mười một sư đoàn. Ðó là nhờ công sức của các sĩ quan chỉ huy và 39 tân sĩ quan khoá 1 CTCT. Các sĩ quan xuất thân từ trường Ðại học CTCT được huấn luyện thuần thục và có tinh thần. Họ có khả năng cả về quân sự lẫn CTCT. Rất nhiều người sau đó đã trở thành những cấp chỉ huy chiến đấu giỏi.

D2.- Bất lợi
Thiếu sự yểm trợ của Hoa Kỳ.
Vì không có cơ quan tương đương trong quân lực Hoa Kỳ, nghành CTCT Việt Nam đã không có đủ tài khoản để điều hành. Tổng cục phải dùng tiền viện trợ dành cho Cục Tâm lý chiến để trang trải hoạt động cho toàn tổng cục. Ðó cũng là lý do giải thích tại sao tổng cục CTCT sáp nhập cục Quân tiếp vụ vào cơ cấu tổ chức của mình: để lấy thêm ngân sách. Sự khác biệt về văn hoá đã làm cho các cố vấn Hoa Kỳ không hiểu rõ thực trạng của cuộc chiến tranh nhân dân do Mao và Giáp đề xướng. Sự thiếu thốn tài chánh và yểm trợ từ phía Hoa Kỳ làm cho nghành CTCT trở nên yếu kém so với các nghành khác, và cản trở họ thực thi những dự án quan trọng.
Trách nhiệm và quyền hạn
Người lính miền Nam Việt Nam, trong gần 50 năm đã chiến đấu liên tục, chống Pháp, chống Nhật, chống Việt Minh, rồi lại chống Việt Cộng và quân Bắc Việt. Dù trên nguyên tắc, họ phải thi hành nghĩa vụ quân dịch trong ba năm, họ đã chiến đấu lâu dài sau khi người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã ra về sau một năm phục vụ tại Việt Nam. Trong cuốn The Vietnam Experience, Tim Page đã miêu tả: ‘Ðiều kiện sống của họ rất kém. Họ ăn cơm với cá khô và ít canh rau. Ðể vui chơi, họ chỉ có chút rượu đế, đánh bài, và lâu lâu có xi nê.’ Người lính lãnh đồng lương nhỏ nhoi để nuôi cả gia đình hoàn toàn lệ thuộc vào họ. Người cán bộ Chiến tranh Chính trị chẳng thể làm gì nhiều để giúp đỡ họ. Chương trình cung cấp nhà ở và học đường chỉ giúp được một tỷ lệ nhỏ các gia đình thiếu thốn.
Người lính được quy định 15 ngày phép hàng năm và phép đặc biệt cho các vấn đề hệ trọng của gia đình. Nhưng trên thực tế, do nhu cầu hành quân và sự ngăn ngừa nạn đào ngũ, việc đi phép bị hạn chế rất nhiều. Quân số một đại đội bộ binh khi cao nhất chỉ khoảng 100 người (160 theo cấp số), trong đó có cả chục người thuộc thành phần bất khiển dụng do bệnh tật hay các vết thương chưa lành hẳn. Tuy nhiên, họ phải thực hiện nhiệm vụ như một đơn vị đầy đủ quân số.
Trong khi các sĩ quan chính trị trong quân đội Bắc Việt là các đảng viên Cộng sản và có quyền vượt hẳn các đơn vị trưởng, sĩ quan CTCT trong quân đội miền Nam không theo một đảng nào. Vì thế họ không có quyền lực. Ở cấp đại đội, họ là người thứ hai trong đơn vị; nhưng càng lên cấp cao hơn, họ là người lép vế nhất trong các sĩ quan tham mưu. Ðại đa số các sĩ quan chỉ huy lại không thấy tầm quan trọng của hoạt động CTCT. Ngoài ra, các sĩ quan CTCT thế hệ cũ lại có ít kiến thức về CTCT và là một trở lực lớn cho những dự án sáng tạo và năng động. Những sĩ quan trẻ trong nghành CTCT thường ưu tư về sự thăng tiến so với các sĩ quan các nghành khác.
Bất ổn chính trị, nạn tham nhũng, và lãnh đạo bất năng.
Dù trong hoàn cảnh chiến tranh và phải đương đầu với kẻ thù nguy hiểm, các nhà lãnh đạo VNCH không có khả năng thiết lập một sự ổn định về chính trị nội bộ. Họ tranh chấp nhau vì quyền lực, bổ nhiệm vào vị trí then chốt những người họ sũng ái thay vì những người tài ba. Sau chiến thắng của quân lực VNCH muà hè năm 1972, Tổng thống Thiệu đã quay mũi dùi hướng về các thành phần đối lập. Ông thành lập đảng Dân chủ như một đảng cầm quyền dù rằng nó thiếu nền móng và không được ai ủng hộ. Nạn tham nhũng trở nên nghiêm trọng trong mọi cấp. Các chức vụ ngon lành phải mua bằng tiền. Hậu quả là những người này lạm dụng quyền hạn để lấy lại sở hụi, hay tệ hơn, làm giàu cho chính mình. hiện tượng lính ma là phổ biến trong các đơn vị bộ binh và địa phương quân. Các sinh viên khoá 4 CTCT khi về hoạt động tại quân khu 4 đã phanh phui nạn tham nhũng, đưa đến sự cách chức vị tư lệnh quân khu và càc đồng loã của ông. Trong hoàn cảnh tham nhũng và tranh chấp quyền lực như thế, khó lòng mà thuyết phục quân lính rằng họ đang chiến đãu cho quê hương và dân tộc.

E.- Kết Luận
Nếu so với hệ thống chính trị đầy kinh nghiệm của quân đội Bắc Việt, nghành CTCT trong Quân lực VNCH là một tổ chức lỏng lẻo và ít hiệu năng. Các cán bộ CTCT không có quyền hành và không được sự hỗ trợ của chỉ huy. Cho dù với uy thế quân sự và hoạt động CTCT hữu hội ệu, chúng ta cũng khó thắng cuộc chiến nếu những kẻ thù bên trong phát triển từ những sai lầm của chúng ta. Chiến tranh chính trị phải đi đôi với một hệ thống chính trị mạnh và ổn định.
Ðối vớì Hoa Kỳ và Việt Nam, thông tin sai lạc là một vấn đề nghiêm trọng làm cho hai chính phủ mất sự hậu thuẫn của dân chúng. Cộng sản đã lợi dụng tự do ngôn luận của chúng ta để phát động chiến tranh tâm lý ngay trên đất chúng ta, trong lúc tâm lý chiến của chúng ta không thể xâm nhập được vào xã hội của họ.
Hệ thống thông tin của chính phủ và quân lực Việt Nam Cộng Hoà đã không gở được mặt nạ Hồ Chí Minh và đồng bọn. Nghiêm trọng hơn, chúng ta đã có nhiều sai lầm làm thay đổi tình thế. Sau trận Tết Mậu Thân, đặc biệt là những năm đầu thập niên 1970, quân lực VNCH đã trưởng thành. Từ 80 đến 90% cơ sở hạ tầng của Việt Cộng bị lộ diện và tiêu diệt. Hàng chục ngàn cán binh Việt cộng bị giết trong các trận đánh đẫm máu trên khắp lãnh thổ. Những người may mắn sống sót phải chạy trốn vào những mật khu bên kia biên giới Việt-Kampuchea. Nếu chính phủ VNCH biết lợi dụng những chiến thắng đó để củng cố, nâng cao an sinh xã hội để phục vụ người dân tốt hơn, nâng cao đời sống binh sĩ và gia đình, đối xử tử tế với các Hồi chánh viên; chắc chắn Cộng sản không có cơ hội đặt chân trở lại miền Nam nữa.
Giáo sư Nguyễn Văn Canh, một nhân vật lãnh đạo đảng Ðại Việt, trong bản báo cáo năm 1973, đã báo động với chính quyền về việc Việt Cộng tại vùng 4 đang tái tổ chức và trang bị. Các đơn vì nay, từ năm 1968, đã không còn ai nghe đến, nay đang được tăng cường bởi hàng trăm hồi chánh viên và các cán bộ VNCH cấp xã ấp là những nạn nhân của sự ngược đãi bất công. Lời cảnh cáo của giáo sư Canh bị Nguyễn Văn Thiệu che tai vì ông ta lưu tâm đến các quyền lợi riêng hơn là quyền lợi của tổ quốc đang lâm nguy. Ông ta đang phải đối phó với phong trào chống tham nhũng do báo giới và các dân biểu, nghị sĩ đối lập chủ xướng.
Nạn tham nhũng cũng là một nguyên nhân làm suy yếu quân đội. Quân Cộng sản hẳn cũng có những vấn đề tương tự của họ, nhưng họ che đậy được nhờ hệ thống truyền thông nhà nước một chiều.
Vào cuối năm 1972, khi Hà Nội gần như suy sụp sau các trận bom tơi bời, Tổng thống Nixon lại ra lệnh ngưng ném bom và tái tục hoà đàm Paris. Việc này giúp cho cộng sản cơ hội ngàn vàng để tái lập lực lượng và làm thay đổi tình thế. Thẳng thắn mà nói, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà đã không biết rõ về địch để có thể có những hành động dứt điểm và hợp lúc để chiến thắng.
Tuy nhiên, công tác Chiến tranh Chính trị vẫn luôn là một yếu tố cần thiết trong bất cứ chiến tranh nào mang màu sắc ý thức hệ. Ðó là một trọng đề mà các cấp lãnh đạo phải quan tâm và hổ trợ.

Advertisements