TRƯỜNG HẠ SĨ QUAN VNCH

Flag_of_Dong_De_Military_School.svg

Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, theo “hệ thống quân giai” trực thuộc Tổng cục Quân huấn trong hệ thống điều hành tổng quát của Bộ Tổng tham mưu. Còn được gọi là Quân trường Đồng Đế. Là một trong những Quân trường bề thế, quy mô nhất Đông Nam Á và nổi tiếng là Lò luyện thép bởi tính chất huấn luyện kỹ lưỡng và kỷ luật cứng rắn tuyệt đối.
Năm 1951, thời kỳ Quốc gia Việt Nam (mới hình thành năm 1948) và Quân đội Quốc gia Việt Nam (hình thành năm 1950). Trường được thành lập tại Vạt Cháy (Bãi Cháy) thuộc Tỉnh Quảng Yên, Bắc Việt (nay là một phường thuộc Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh). Ban đầu với nhiệm vụ huấn luyện Biệt động đội và lấy tên là Trường Biệt động đội.

Tháng 8 năm 1954, sau ngày đình chiến (Hiệp định Genève 20 tháng 7), trường di chuyển vào Suối Dầu, Nha Trang hợp nhất với trường huấn luyện quân sự Địa phương số 4 với nhiệm vụ huấn luyện lớp CC1 và CC2 ngành bộ binh.

thasiquan

Giữa năm 1955, trường di chuyển về Phú Xương, Đồng Đế, Nha Trang với danh hiệu Trường Biệt động đội & Thể dục.

Đầu năm 1957, trường chính thức mang tên Trường Hạ sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa (sau là Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa).
Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1958, trường đảm nhận huấn luyện các khoá:

– Biệt động đội
– Thám báo
– Phản Du kích
– Thể dục quân sự
– Quyền thuật & Nhu đạo
– Quân y Dược sĩ
– Liên đoàn Đặc biệt

Nhiệm vụ của Trường Hạ sĩ quan từ năm 1959 tới năm 1963 huấn luyện:

– Bốn khoá đặc biệt sĩ quan Chuẩn úy hiện dịch (khoá sinh là những hạ sĩ quan xuất thân từ trường Thiếu sinh quân, những hạ sĩ quan xuất sắc hoặc thâm niên trong quân đội).

– Các khóa đào tạo hạ sĩ quan Trung sĩ trừ bị (khoá sinh là những thanh niên dân chính đến tuổi động viên quân dịch có văn bằng phổ thông từ Trung học Đệ nhất cấp trở lên hoặc chứng chỉ tương đương. Trong đó còn đào tạo những khoá sinh từ trường Thiếu Sinh Quân không theo được Trung học Đệ nhị cấp, trở thành những hạ sĩ quan hiện dịch.

– Các khoá hạ sĩ quan Trung sĩ đặc biệt (khoá sinh là những binh sĩ đã có cấp bậc Hạ sĩ, Hạ sĩ nhất xuất sắc hoặc thâm niên trong quân đội).

Riêng các khoá hạ sĩ quan trừ bị là mục tiêu đào tạo chính của trường, nên năm nào cũng có ít nhất 4 khoá khai giảng và nhập học, có năm lên tới 7 khoá. Có những năm Tổng cục Quân huấn phải chuyển qua các Quân trường Quang Trung và Quân trường Lam Sơn.

Kể từ năm 1968, nhận huấn luyện các khoá sĩ quan trừ bị, phụ lực với trường sĩ quan Thủ Đức (khoá sinh là những học sinh hoặc sinh viên khi trình diện nhập ngũ phải có văn bằng từ Tú tài I trở lên hoặc chứng chỉ tương đương).

Ngoài ra, trường còn nhận huấn luyện đào tạo các lớp quân sự khác (không những đối với các thí sinh trong nước, mà còn nhận cả những thí sinh từ các nước bạn Lào và Cao Miên) do Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Quân huấn giao phó.

Trường Hạ sĩ quan đã liên tục huấn luyện các khoá học như đã kể trên cho đến tháng 4 năm 1975, trường đã đào tạo được 120.000 hạ sĩ quan, hơn 8.000 sĩ quan hiện dịch và 12.000 sĩ quan trừ bị cùng nhiều khoá huấn luyện quân sự cho Học viện Quốc gia Hành chánh.
Chỉ huy trưởng qua các thời kỳ
Từ ngày thành lập đến sau cùng, trải qua 16 vị Chỉ huy trưởng
TT Họ & Tên Cấp bậc
tại nhiệm Thời gian
tại chức Chú thích
1
Lê Cầm
Thiếu tá
(1954)
Trung tá
(1956)
1955-1956
Chỉ huy trưởng đầu tiên. Tiếp thu Quân trường từ Quân đội Pháp. Sau giải ngũ ở cấp Trung tá
2

Trần Vĩnh Đắc
Đại tá
1956-1957
Sau biệt phái sang làm Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia
3
Nguyễn Thế Như
nt
1957-1959
Giải ngũ cùng cấp
4
Đoàn Văn Quảng
Võ bị Pháp
Trung tá
(1955)
1959
Sau là Thiếu tướng Tham mưu phó tại Bộ Tổng tham mưu
5
Đặng Văn Sơn
Hạ sĩ quan Pháp
Đại tá
1959-1961
Giải ngũ ở cấp Đại tá
6
Đỗ Cao Trí
Nước Ngọt Vũng Tàu
(Võ bị Viễn Đông K2)
Đại tá
(1956)
1961-1962
Năm 1971, tử nạn trực thăng khi đang là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III. Được truy thăng Đại tướng
7
Nguyễn Văn Kiểm
Võ bị Viễn Đông K1
Đại tá
(1962)
1962-1964
Năm 1969, tử thương ở cấp Thiếu tướng do đặc công địch đánh bom sát hại
8
Nguyễn Vĩnh Xuân
Sĩ quan Thủ Đức K1
Trung tá
Đầu năm 1964
Giải ngũ ở cấp Đại tá
9
Nguyễn Văn Là
Võ bị Tong Sơn Tây

Thiếu tướng
(1958)
1964-1966
Giải ngũ năm 1974 ở cấp Trung tướng
10
Lâm Quang Thơ
Võ bị Đà Lạt K3
Đại tá
(1965)
1966-1967
Chỉ huy trưởng sau cùng Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam ở cấp Thiếu tướng
11
Phạm Văn Liễu
Địa phương Bắc Việt
Đại tá
1966-1967
Nguyên Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia. Sau giải ngũ cùng cấp
12
Lê Văn Nhật
Địa phương Bắc Việt
Đại tá
1967-1969
Giải ngũ cùng cấp
13
Linh Quang Viên
Võ bị Tong Sơn Tây
Trung tướng
(1967)
1969-1972
Giải ngũ năm 1973, được cử đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hoà tại Cộng hoà Trung Phi
14
Võ Văn Cảnh
Võ bị Đập Đá K3
(Địa phương Trung Việt)
Chuẩn tướng
(1970)
1972-1973
Sau là Thiếu tướng
15
Dư Quốc Đống
Võ bị Đà Lạt K5
Trung tướng
(1970)
1973-1974
Sau phục vụ tại Bộ Tổng tham mưu
16
Phạm Quốc Thuần
Võ bị Đà Lạt K5
Trung tướng
(1971)
1974-tháng 4/1975
Chỉ huy trưởng cuối cùng

Advertisements